Bệnh ung thư – Thực đơn phòng chữa trị

MỤC LỤC

 

LỜI GIỚI THIỆU

 

Không phải là bệnh dịch lây truyền bừng phát như SARS, HIV-A1DS nhưng bệnh ung luôn đặt nhân loại ở điểm nóng. Cho đến nay, trong khi y học còn chưa chế ngự được nó, bệnh ung thư vẫn ngày một tăng cao.

Tình hình cụ thể ở Việt Nam cũng rất đáng lo ngại. Sự thực đang ở mức cấp báo, song chưa được mọi người quan tâm đầy đủ và nhận thức thấu đáo: Hút thuốc lá, sa lầm trong ăn uống và môi trường ô nhiễm là nhũng nguyên nhân chính gây bệnh ung thư và gây tử vong cao.

Chính vì vậy, cuốn sách sẽ đem tới cho mỗi người những hiểu biết bao quát và căn bản về ung thư.

– Nguyên nhân và các tác nhân gây ung thư.

– Sự hình thành, tiến triển của bệnh ung

– Các biện pháp hiệu quả phòng ngừa ung thư.

– Món ăn bài thuốc phòng ngừa.

Những nội dung cơ bản dược trình bày rất cụ thể, thiết thực, dễ nắm bắt, dễ hiểu và dễ vận dụng.

Cuốn sách này sẽ hồi đắp cho bạn đọc những nhận thức căn bản về bệnh ung thư để từ đó sống lành mạnh, giữ gìn sức khoẻ thể chất tránh được bệnh tật.

Mong rằng cuốn sách thực sự là bạn đồng hành giúp các bạn hiểu biết hơn, tự tin hơn trong việc phòng trị bệnh cho bản thân và gia đình.

 

PHẦN I: KIÊN THỨC CHUNG VỀ BỆNH UNG THƯ

 

NHỮNG BỆNH NÀO ĐƯỢC GỌI LÀ BỆNH UNG THƯ?

Bệnh ung thư là gì? Nói một cách dơn giản, đó là do cơ thể chịu tác dụng của những tác nhân gây ung thư, làm cho các tổ chức tế bào phát triển đột biến không có quy luật, sinh sản vô độ, xâm nhập khắp nơi, hình thành những khối u.

Tê bào ung thư là những tế bào tăng sinh bình thường phát triển đột biến gây ra. Những tế bào bình thường phát triển có giới hạn. Nhưng do cơ chế tự không chế bị phá hoại, tế bào ung thư có thế phát triển không có giới hạn, tạo nên những khối u ác tính.

THỰC TRẠNG CỦA BỆNH UNG THƯ

Theo thống kê của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) hàng năm có chừng 6 triệu người mắc bệnh ung thư, trong số đó khoảng 5 triệu người bị tử vong.

Tính ra ở Mỹ cứ 5 người lớn thì có 1 người chết vì ung thư. Có 2 trẻ nhó chết vì ung thư (bạch cầu) trong tổng sô 28 người bị chết ở tuổi dưới 15. Ở châu Âu, tỷ lệ ung thư có mức độ cao là: ung thư vú, ung thư cổ tử cung, ung thư phổi, ung thư tuyến tiền liệt.

Ung thư dạ dày, ung thư vòm họng và ung thư đường hô hâp thường gặp nhiều châu Á. Ung thư dạ dày có tỷ lệ rất cao ở Nhật (79/100.000 người) và chiếm 65% tổng số tử vong vì ung thư.

Ở Việt Nam, tuy chưa có thông kê chính thức nhưng sỏ bộ cho thâ’y: Nam giới thường mắc ung thư dạ dày, vòm họng, phổi, dương vật. Nữ thường bị ung thư vú, ung thư cổ tử cung. Ung thư gan thường gặp ở cả nam giới và nữ giới. Cũng theo các số liệu quốc tế thì con số các loại bệnh ung thư đã tăng nhanh trong vòng 80 năm qua.

BỆNH UNG THƯ CÓ THỂ CHỮA KHỎI ĐƯỢC KHÔNG?

Mọi người, kể cả trong giới y học đều cho rằng bệnh ung thư không thể chữa khỏi được.

Đó là một quan niệm sai lầm phổ biến nhâ”t. Đôi với bệnh ung thư, nhờ các thành tựu đạt được trong công tác phòng, phát hiện sớm và điều trị, ở các nước tiên tiến, người ta có thể chữa khỏi hơn 50% trong tổng số các loại ung thư. Một cách tổng thể, có 1/3 bệnh ung thư có thể dự phòng được, 1/3 ung thư được chữa khỏi nhờ phát hiện bệnh sớm. Và bằng các phương pháp điều trị, chúng ta có thể kéo dài, nâng cao chất lượng sông cho 1/3 số bệnh nhân ung thư còn lại. Nếu các bác sĩ ở tuyến cơ. sở được trang bị đầy đủ kiến thức và hiểu biết về ung thư sẽ góp phần rất quan trọng trong phòng và phát hiện sớm ung thư, qua đó góp phần giảm tỉ lệ mắc và chết do căn bệnh này. Thông thường, nếu bệnh nhân sống thêm 5 năm sau điều trị mà không có dâu hiệu tái phát hay di căn thì được đánh giá là khỏi bệnh như: ung thư da, ung thư dạ dày, ung thư cổ tử cung…

Vậy ung thư có thể chữa khỏi được không? Qua thống kê ở một số cơ sở chuyên khoa đầu ngành cho thây, 60% bệnh nhân ung thư cổ tử cung ở Bệnh viện K (Hà Nội), 10% số’ bệnh nhân bị ung thư dạ dày ở Bệnh viện Việt Đức và 15-33% bệnh nhân ung thư vòm họng ở Bệnh viện K (Hà Nội)… sông qua được 5 năm điều trị. Tuy nhiên cũng có thể khẳng định, có bệnh nhân được điều trị khỏi nhưng con số chưa nhiều và tỉ lệ sông còn phải tùy thuộc vào việc phát hiện sớm, có phương tiện chẩn đoán và điều trị phù hợp, có các chuyên gia chuyên khoa ung thư giỏi.

NGUYÊN NHÂN GÂY UNG THƯ

1- Nhân tố bên ngoài

Tác nhân hóa học là các loại amin thơm, các chât Asen, Crom, Cadmi… Tác nhân vật lý là bức xạ điện ly, ánh sáng mặt trời, tia tử ngoại… Tác nhân sinh vật gồm virut, kí sinh trùng, các bệnh viêm mạn tính kích thích.

2- Nhân tố bên trong

Gồm nhân tố di truyền, chủng tộc, giới tính, tuổi tác, cár kích thích, hệ miễn dịch.

3- Các tác nhân gây bệnh ung thư

Có 3 yếu tô chính gây nên bệnh:

– Ăn uống thừa nhiều chất giàu năng lượng, uống rượu, hút thuốc quá nhiều.

– Thiếu chất carbonhydrate phức hợp trong bữa ăn.

– ít vận động, làm việc căng thẳng, môi trường ô nhiễm.

UNG THƯ DI CĂN VÀ CÁCH DỰ PHÒNG

Tế bào ung thư ác tính ở phần ung thư tách ra, dịch chuyển tới các bộ phận khác của cơ thể

theo những đường khác nhau rồi sinh sôi nảy nở tại đó, hình thành khôi u mới giống như nguyên gốc. Khôi ung thư mới này được gọi là ung thư di căn hoặc ung thư kê phát. Đặc tính này của ung thư còn gọi là tính mở rộng. Sự mở rộng đó bao gồm phần phát triển các hạch và phần di chuyển. Do di chuyển trước tiên buộc phái kết hạch, nên di căn chính là hậu quả nghiêm trọng của kết hạch. Chúng có thể thông qua các tuyến limpa, đường máu, sinh sản để di căn tới các bộ phận khác của cơ thể.

Di căn qua đường limpa, là một phương thức thường gặp nhất. Tế bào ung thư trước tiên xâm nhập vào ống limpa rồi theo hướng chảy của dịch limpa đi vào hạch limpa. Khi đã bám chắc được ở đó, nó lại xâm nhập vào các hạch bên cạnh, sau đó thoát ra và chuyển vào các cơ quan khác, hình thành ổ di căn mới. Còn tê bào ung thư ở các cơ bắp lại di căn theo đường máu. Sau khi vào mạch máu, nó theo máu tới khắp nơi trong cơ thể, tạo ra rất nhiều khôi u tương đối rõ ràng. Ung thư di căn còn một loại nữa là thường phát triển ở nội tạng, các tế bào ung thư này thoát ra phần ngoài của nội tạng rồi dính vào phía ngoài các cơ quan nội tạng khác và phát triển lên với độ to nhỏ khác nhau. Cuối cùng là ung thư di căn mang tính tiếp xúc, nghĩa là chỉ phát sinh ở hai cơ quan tiếp xúc rất chặt chẽ với nhau, nhưng rất ít gặp.

Nếu ung thư đã di căn thì người bệnh sẽ mât đi cơ hội điều trị tận gốc, do vậy dự phòng bệnh ung thư di căn có ý nghĩa rất quan trọng.

Muôn dự phòng dược trước tiên phải loại trừ các tác nhân kích thích di căn.

– Ví dụ, người mắc ung thư ác tính hết sức tránh các tác nhân gây kích thích, không được sờ, ân vào khôi u, càng không được chườm nóng hoặc xoa bóp để tránh tẽ bào lan ra.

– Thứ hai là phòng chống máu đông dặc, không để tế bào ung thư dừng lại trong máu hoặc ổ dịch limpa, gây ra ổ ung thư mới.

– Phương pháp khác quan trọng hơn là cần tăng cường khả năng miễn dịch của cơ thể, đảm bảo để nó có thể giám sát các hoạt dộng miễn dịch vận hành bình thường, để cơ thể chủ động tiêu diệt các tê bào ung thư di căn.

UNG THƯ ÁC TÍNH CÓ NGUY HẠI GÌ TỚI CƠ THỂ?

1- Tắc nghẽn và chèn ép: Điểm này giống như ung thư lành tính, nhưng phát triển nhanh và mức độ cao hơn. Ví dụ, ung thư thực quản có thể làm tắc nghẽn thực quản, người bệnh nuốt rất khó khăn.

2- Phá hoại kết cấu và chức năng của các bộ phận mắc bệnh: Ví dụ ung thư gan, do tế bào

gan bị phá hoại, ông thông sang mật bị tắc làm toàn thân bị vàng da.

3- Tấn công phá hoại các bộ phận liên kết:

Ví dụ, ung thư thực quản có thể xuyên qua thành thực quản để tấn công khí quản, tạo ra ung thư khí quản, khi nuốt thức ăn có thể rơi vào khí quản gây viêm phổi.

4- Hoại tử, xuất huyết, viêm nhiễm: Ung thư

ác tính sinh trưởng nhanh, tổ chức ung thư không được câp đủ máu sẽ gây hoại tử. Nếu nó tân công vào mạch máu sẽ gây xuất huyết; ung thư mũi, họng dễ gây chảy máu mũi; ung thư phổi thường kèm theo phổi bị viêm nhiễm.

5- Đau đớn: Do tổ chức ung thư chèn ép hoặc xâm nhập vào thần kinh nên gây ra đau đớn ở các phần tương ứng. Ví dụ, ung thư gan thời kỳ cuôì hoặc ung thư dạ dày đều có cơn đau kịch liệt; ngoài ra ung thư kèm viêm nhiễm cũng gây ra đau đớn.

6- Phát sốt: Những chất qua trao đổi của tổ chức ung thư hoặc các chất do tổ chức hoại tử phân giải ra và các loại virut đều làm cho người bệnh phát sốt, nhưng không cao lắm.

7- Thể chất người bệnh xâu đi nhanh chóng:

Cơ thể người bệnh trở nên gầy gò yếu ớt, thiếu máu, toàn thân suy kiệt. Đây là nguyên nhân quan trọng gây tử vong cho người bệnh.

UNG THƯ NGUYÊN PHÁT VÀ UNG THƯ TÁI PHÁT

– Ung thư nguyên phát: Là những tê bào ở các cơ quan, tổ chức bình thường, dưới tác dụng lâu dài của các tác nhân gây ung thư cả bên trong và bên ngoài, dần dần sẽ phát triển đột biến thành tế bào ung thư, hình thành các khôi tế bào ung thư. Và như vậy nó còn có tên khác là ung thư ác tính nguyên phát.

Loại ung thư này chiếm phần lớn trong các loại ung thư ác tính lâm sàng. Ngoài móng (chân và tay), lông ra, còn lại tất cả các bộ phận, cơ quan cơ thể người đều có thể mắc bệnh ung thư nguyên phát này.

– Ung thư tái phát: Chỉ dạng ung thư nguyên phát sau khi được điều trị thuyên giám thì những cơ quan, tổ chức đó lại phát sinh ung thư mới. Loại ung thư mới đó gọi là ung thư tái phát.

Nguyên nhân gây tái phát ung thư có rất nhiều, trong đó tác nhân chủ yếu nhất là việc điều trị ung thư nguyên phát không triệt để. Ví dụ như khi phẫu thuật cắt không sạch khôi u, dùng liệu pháp phóng xạ hoặc hóa chất không triệt để, một số tế bào ung thư còn tồn tại. Hoặc dưới tác dụng của một số tác nhân gây bệnh khác, nó sẽ gây ra ung thư tái phát. Ví dụ phụ nữ bị ung thư, sau khi được điều trị, cơ thể chưa phục hồi hoàn toàn đã mang thai ngay. Việc mang thai có

ảnh hưởng râ’t lớn tới tinh thần và thể lực người bệnh, làm thay đổi việc tiết các chất hormon trong người… Những điều đó đều làm giảm khả năng miễn dịch của cơ thể, làm những tế bào ung thư còn sót lại tái phát triển.

NHỮNG NHÓM NGƯỜI NÀO CÓ NGUY CƠ MẮC UNG THƯ CAO?

1- Nhóm có nguy cơ mắc ung thư mũi, họng cao: Nam giới trong độ tuổi 30-50, sông ở các vùng bị ô nhiễm.

2- Nhóm có nguy cơ mắc ung thư gan cao:

Nam giới trong độ tuổi 40-50, thích uông rượu, ăn không sạch, bị bệnh gan mạn tính.

3- Nhóm có nguy cơ mắc ung thư trực tràng: Trung niên tầm 40 tuổi trở lên, có thói quen ăn nhiều mỡ hoặc bị bệnh đường ruột mạn tính.

4- Nhóm có nguy cơ mắc ung thư dạ dày cao:

Nam giới từ 40-60 tuổi, nghiện thuốc lá, ăn uông không tốt, bị bệnh dạ dày mạn tính.

5- Nhóm có nguy cơ mắc ung thư tuyến vú cao: Phụ nữ từ 44-55 tuổi, sông ở nông thôn hoặc miền núi hoặc đã có người nhà bị mắc bệnh ung thư vú.

6- Nhóm có nguy cơ mắc ung thư cố tử cung cao: Phụ nữ 44-55 tuổi, sống ở vùng núi hoặc nông thôn, gia đình đã có người mắc bệnh.

7- Nhóm có nguy cơ ung thư phổi cao: Nhóm người trên 40 tuổi, đặc biệt là lớp người cao tuổi (50-70 tuổi), nghiện thuôc.

8- Nhóm có nguy cơ ung thư thực quản cao: Đàn ông độ tuổi 60-70 hút thuôc và thói quen ăn uổng không tốt, gia đình có tiền sử bị ung thư.

9- Nhóm có nguy cơ ung thư da cao: Đàn ông

50-60 tuổi, sống và làm việc ở vùng núi hoặc ven biển, nhất là những người làm việc ngoài trời.

10- Nhóm có nguy cơ cao mắc bệnh máu trắng: Lớp người trên 40 tuổi, đặc biệt những người tiếp xúc với phóng xạ thời gian dài có thể bị máu trắng mạn tính. Còn thanh thiếu niên trong những gia đình có tiền sử bệnh này thì thường bị ở dạng câp tính.

11- Nhóm có nguy cơ mắc ung thư khoang miệng cao: Người trên 40 tuổi, vệ sinh răng miệng kém, bị viêm lợi quá lâu, người lắp răng giả nhưng không vệ sinh răng miệng tôt.

12- Nhóm có nguy cơ mắc ung thư bàng quang cao: Người trong độ tuổi 50-60 tuổi, đàn ông thường tiếp xúc với cao su thiên nhiên.

13- Nhóm có nguy cơ mắc ung thư dương vật cao: Người 40 tuổi trở lên, điều kiện vệ sinh cá nhân kém, bao qui đầu để quá lâu.

14- Nhóm có nguy cơ mắc ung thư tử cung cao: Phụ nữ trên 50 tuổi chưa chồng, chưa mang thai hoặc đẻ lần nào, hoặc những phụ nữ trong gia đình có người bị ung thư.

KHỐI U CÓ DI TRUYỀN KHÔNG?

Về mặt lâm sàng cho thấy, con cái người bệnh ung thư có tỉ lệ mắc ung thư cao hơn người bình thường. Con cái người ung thư dạ dày có tỉ lệ mắc ung thư dạ dày cao gấp 4 lần so với người bình thường; mẹ bị ung thư vú thì con gái cũng dễ mắc ung thư vú hơn. Các loại ung thư khác như ung thư thực quản, gan, mũi họng, ruột kết… cũng vậy. Ví dụ, trong gia đình có người bị bệnh về ruột kết sẽ di truyền sang cho con cái nhiều hơn, 50% những người mắc bệnh thuộc đời sau trong khoảng sau 30 tuổi sẽ chuyển thành ác tính và biến thành ung thư, thường sẽ tử vong nhiều ở tuổi 40. Đó là một loại di truyền ung thư gián tiếp, nghĩa là 50% người bị di truyền chuyển thành ung thư. Cho nên có thể nói, ung thư cũng có thể là một căn bệnh di truyền.

NGUYÊN NHÂN GÂY BỆNH UNG THƯ DO ĂN UỐNG

Các loại bệnh tật, ngoài nguyên nhân di truyền ra thì nguyên nhân ăn uống đứng hàng thứ hai, cùng với nguyên nhân môi trường.

Khoảng 50 năm trở lại đây, bệnh ung thư đã lan tràn khắp nơi. Tất cả mọi cái đều thay đổi, từ môi trường sống, nhât là cách ăn uống thay đổi quá nhiều. Khi xưa, tổ tiên ta không ăn gạo xay xát quá kỹ, bánh mì quá trắng, không uống Coca-Cola, không ăn đường quá nhiều… Cũng không có mì chính (bột ngọt)jđồ ăn nhanh, thức ăn đã qua chế biến. Chúng ta đã thay đổi hoàn toàn thói quen ăn uống. Hàng triệu năm trước, con người sông bằng những món ăn đầy đủ chất có gôc từ các nông sản nguyên chất. Những thức ăn thời “văn minh” bắt đầu gây cho cơ thể vô sô các chât độc hại như chât hóa học, chất ươn thôi, đường… Hàng ngày cơ thể đều phải thải chất độc qua đường máu, đi tiểu, mồ hôi, qua hơi thở… Các chất độc vào cơ thể đều được đào thải ra ngoài qua con đường bài tiết. Nhưng khi lượng chất độc quá cao thì cơ thể sẽ không đào thải ra kịp hết được. Rất đơn giản, cơ thể sẽ tự vệ: tiêu diệt chât độc bằng cách tạo ra một cơn bệnh, để đốt cháy các chât độc, làm cho cơ thể sạch sẽ quân bình trở lại.

Nhưng nếu cứ ăn thêm chất độc thì cơ thể sẽ gom những chất độc ấy vào một chỗ – tức là các khôi u. Và như vậy ta sẽ bị bệnh ung thư.

Cơ thể gom những độc tố đó vào một cơ quan như vú, phổi, bộ phận sinh dục… Những khôi độc đó ứ đọng thành các mạng mỡ dễ ung thối, ủ vô số vi trùng vi khuẩn tạo thành khối u. Do đó có thể nói, bệnh ung thư là cách chông đỡ tự nhiên của cơ thể để cứu vãn sự sống. Nếu tiêu thụ quá số calo cần thiết cho cơ thể thì bệnh ung thư sẽ phát sinh.

TRẺ EM MẮC UNG THƯ CÓ ĐẶC ĐIỂM GÌ?

Trẻ em mắc ung thư có hai đặc điểm sau:

– Mức độ ác tính cao, bệnh phát triển nhanh.

– Rất mẫn cảm với cách trị liệu bằng hóa chât và phóng xạ, tế bào ung thư dễ bị diệt.

Do vậy, trẻ em khi bị ung thư ác tính thì phải đặc biệt chú ý phát hiện sớm và điều trị sớm. Người nhà cần phải chăm sóc trẻ thật cẩn thận, phải định kỳ kiểm tra để có thể diệt tế bào ung thư từ lúc mới manh nha.