Cơ sở lý thuyết ung thư vú – Tập 1

 

Hiểu về ung thư vú

Ung thư vú là gì?

Ung thư vú là một khối u ác tính bắt đầu trong các tế bào của vú. Khối u ác tính là một nhóm các tế bào ung thư có thể phát triển vào (xâm lấn) các mô bên cạnh hoặc lan tỏa (di căn) tới các cơ quan xa của cơ thể. Ung thư vú hầu như xảy ra ở phụ nữ, nhưng nam giới cũng có thể bị ung thư vú.

1.1 Vú bình thường

Để hiểu về ung thư vú, cần biết về cấu trúc bình thường của vú

Vú phụ nữ chủ yếu gồm:

Tiểu thùy – tuyến sản sinh sữa

Ống dẫn sữa – các ống tí xíu mang sữa từ tiểu thùy tới núm vú.

Mô đệm – mô mỡ và mô liên kết, các mạch máu và các mạch bạch huyết

Hầu hết ung thư vú bắt đầu ở các tế bào lót ống dẫn sữa (ung thư ống dẫn sữa). Một số ung thư vú bắt đầu ở các tế bào lót tiểu thùy (ung thư tiểu thùy) trong khi một số nhỏ ung thư vú bắt đầu ở các mô khác.

1.2 Hệ thống bạch huyết của vú

Hiểu hệ thống bạch huyết là quan trọng do nó là đường để ung thư vú lan tỏa. Hệ thống này có một vài phần.

Các hạch bạch huyết là chùm nhỏ hình hạt đậu các tế bào của hệ miễn dịch (các tế bào quan trọng trong chống lại nhiễm khuẩn) được nối với nhau bằng mạch bạch huyết. Mạch bạch huyết giống như các mạch máu nhỏ ngoại trừ rằng các mạch này mang chất lỏng trong được gọi là bạch huyết (thay cho máu) đi ra khỏi vú. Các tế bào ung thư vú có thể đi vào mạch bạch huyết và bắt đầu tăng trưởng ở các hạch bạch huyết.

Hầu hết các mạch bạch huyết trong vú nối với các hạch bạch huyết dưới cánh tay (các hạch trong hốc nách). Một số mạch bạch huyết nối các hạch bạch huyết bên trong ngực (các hạch nội tuyến vú) và hoặc ở trên hoặc ở dưới xương đòn (các hạch thượng đòn hoặc dưới xương đòn).

Nếu các tế bào ung thư lan tỏa tới hạch bạch huyết thì có thể các tế bào ung thư cũng có thể đi vào dòng máu và lan (di căn) tới các vị trí khác trong cơ thể. Càng nhiều hạch bạch huyết có các tế bào ung thư, càng nhiều khả năng có thể tìm thấy ở các cơ quan khác. Do vậy, tìm ra ung thư ở một hoặc nhiều hạch bạch huyết thường ảnh hưởng tới kế hoạch điều trị. Không phải tất cả các phụ nữ có tế bào ung thư ở hạch bạch huyết phát triển di căn mà một số phụ nữ có thể không có tế bào ung thư trong hạch bạch huyết nhưng phát triển di căn sau đó.

Nguyên nhân gây ung thư vú

2.1 Các yếu tố rủi ro gây ung thư vú không thay đổi được

2.1.1 Giới

Một cách đơn giản, là phụ nữ là yếu tố rủi ro chính cho phát triển ung thư vú. Nam giới có thể phát triển ung thư vú, nhưng ung thư vú ở nữ thường phổ biến gấp 100 lần ở nam giới, chắc chắn là do nam giới có ít mô vú hơn cũng như có ít nội tiết nữ oestrogen và progesteron có thể thúc đẩy tế bào ung thư vú tăng trưởng.

2.1.2 Tuổi

Rủi ro phát triển ung thư vú cao hơn khi lớn tuổi hơn. Chừng 1 trong 8 ung thư vú xâm lấn được phát hiện ở phụ nữ dưới 45 tuổi, trong khi khoảng 2 tới 3 ung thư vú xâm lấn được phát hiện ở phụ nữ 55 tuổi hoặc cao hơn.

2.1.3 Các gen di truyền

Chừng 5% tới 10% các trường hợp ung thư vú được cho là do di truyền, nghĩa là ung thư vú do lỗi của gen gây ra (được gọi là đột biến) được truyền từ mẹ sang.

Những thay đổi gen BRCA1 và BRCA2: nguyên nhân phổ biến nhất của ung thư vú di truyền là sự đột biến di truyền ở gen BRCA1 và BRCA2. Trong các tế bào bình thường, những gen này giúp ngăn ngừa ung thư bằng cách làm cho các protein giúp giữ các tế bào không phát triển vượt quá tầm kiểm soát. Nếu bạn có thừa hưởng một bản sao đột biến của hai gen này từ mẹ, bạn có rủi ro cao phát triển ung thư vú trong suốt cuộc đời bạn.

Mặc dầu trong một số gia đình có đột biến gen BRCA1 rủi ro cả đời mắc ung thư vú cao tới 80%, trung bình rủi ro này dường như trong khoảng 55 tới 65%. Đối với đột biến BRCA2 thì rủi ro thấp hơn, chừng 45%.

Ung thư vú gắn với các đột biến này thường xảy ra ở những phụ nữ trẻ và thường ảnh hưởng cả hai vú hơn là các ung thư không gắn với các đột biến này. Những phụ nữ có các đột biến di truyền này cũng có rủi ro gia tăng phát triển các ung thư khác, đặc biệt là ung thư buồng trứng.

Xét nghiệm gen: Có thể làm xét nghiệm gen để tìm kiếm đột biến trong gen BRCA1BRCA2 (hoặc ở các gen ít phổ biến hơn như là PTEN hoặc TP53). Mặc dầu xét nghiệm có thể là hữu ích trong một số tình huống, cần cân nhắc cẩn thận thuận lợi và khó khăn.

2.1.4 Lịch sử gia đình có ung thư vú

Rủi ro ung thư vú cao hơn ở những phụ nữ có họ hàng gần mắc bệnh này.

Có họ hàng đời thứ nhất (mẹ, chị em gái hoặc con gái) mắc ung thư vú sẽ làm rủi ro của phụ nữ tăng gấp đôi. Có họ hàng đời thứ 2 mắc ung thư vú làm rủi ro tăng khoảng 3 lần.

Mặc dầu chưa biết rủi ro chính xác, những phụ nữ có lịch sử gia đình mắc ung thư vú ở người cha hoặc anh em trai cũng có rủi ro gia tăng mắc ung thư vú.

Tổng thể, chưa tới 15% phụ nữ mắc ung thư vú có thành viên gia đình mắc căn bệnh này. Điều đó có nghĩa rằng hầu hết (85%) phụ nữ mắc ung thư vú không có lịch sử gia đình mắc bệnh này.

2.1.5 Lịch sử cá nhân mắc ung thư vú

Phụ nữ mắc ung thư ở một bên vú có rủi ro gia tăng phát triển ung thư mới ở vú bên kia hoặc ở một phần khác của cùng vú (khác với sự tái phát của ung thư đầu tiên). Rủi ro này thậm chí cao hơn nếu ung thư vú được chuẩn đoán khi tuổi còn trẻ.

2.1.6 Mô vú dày

Vú được hình thành từ mô mỡ, mô xơ và mô tuyến. Phụ nữ có vú dày (trên phim chụp X quang) khi họ có nhiều mô tuyến và mô xơ và ít mô mỡ hơn. Phụ nữ có vú dày trên phim chụp X quang có rủi ro ung thư vú gấp 1,2 tới 2 lần những phụ nữ có mật độ vú trung bình. Thật không may, mô vú dày cũng có thể làm phim chụp kém chính xác.

Nhiều yếu tố có thể ảnh hưởng tới mật độ vú, như là tuổi, tình trạng mãn kinh, sử dụng các thuốc nào đó (gồm cả liệu pháp nội tiết mãn kinh), mang thai và di truyền.

2.1.7 Carcinima tiểu thùy tại chỗ

Trong carcinoma tiểu thùy tại chỗ (LCIS), các tế bào nhìn giống tế bào ung thư đang phát triển ở tiểu thùy của các tuyến sản sinh sữa của vú, nhưng chúng chưa phát triển qua thành của tiểu thùy. LCIS (còn được gọi là sự tạo tiểu thùy) đôi khi được nhóm với carinoma ống dẫn sữa (DCIS) như là ung thư vú không xâm lấn, nhưng khác với DCIS ở chỗ nó dường như không trở thành ung thư xâm lấn nếu được điều trị.

Phụ nữ có LCIS có rủi ro gia tăng phát triển ung thư vú 7 tới 11 lần ở cả hai vú.

2.1.8 Bắt đầu có kinh nguyệt trước tuổi 12

Phụ nữ có nhiều kỳ kinh nguyệt hơn do bắt đầu hành kinh sớm (trước tuổi 12) có rủi ro ung thư vú hơi cao hơn. Gia tăng rủi ro có thể là do phơi nhiễm cả đời dài hơn với các nội tiết oestrogen và protestorone.

2.1.9 Mãn kinh sau tuổi 55

Phụ nữ có nhiều kỳ hành kinh hơn do họ trải qua mãn kinh muộn hơn (sau tuổi 55) có rủi ro ung thư vú hơi cao hơn. Sự gia tăng rủi ro có thể là do phơi nhiễm cả đời lâu hơn với nội tiết oestrogen và protestorone.

2.1.10 Trước đó có xạ trị thành ngực

Phụ nữ khi còn là trẻ con hoặc thanh niên được điều trị bằng xạ trị vào khu vực thành ngực do mắc một ung thư khác (như là bệnh Hodgkin và hạch không Hodgkin) có rủi ro ung thư vú gia tăng. Rủi ro này thay đổi theo tuổi của bệnh nhân khi họ được xạ trị. Rủi ro cao nhất nếu xạ trị được thực hiện khi còn là thiếu nữ, khi vú vẫn đang phát triển. Xạ trị sau tuổi 40 dường như không làm tăng rủi ro ung thư vú.

Các yếu tố liên quan tới lối sống và rủi ro ung thư vú

2.2.1 Có con

Phụ nữ không sinh con hoặc có con đầu lòng sau tuổi 30 có rủi ro ung thư vú hơi cao hơn. Mang thai ở tuổi trẻ làm giảm rủi ro ung thư vú. Nhưng ảnh hưởng của mang thai là khác nhau cho các loại ung thư vú khác nhau. Đối với loại ung thư vú được gọi là bộ ba âm tính thì mang thai dường như làm tăng rủi ro.

2.2.2 Kiểm soát sinh đẻ

  • Viên uống tránh thai

Các nghiên cứu đã thấy rằng phụ nữ sử dụng viên uống tránh thai có rủi ro hơi cao mắc ung thư vú hơn là phụ nữ không bao giờ uống thuốc này. Rủi ro này dường như quay trở về mức bình thường một khi dừng uống thuốc. Phụ nữ dừng sử dụng viên uống tránh thai trên 10 năm trước dường như không có bất kỳ rủi ro gia tăng mắc ung thư vú. Khi nghĩ đến viên uống tránh thai, phụ nữ nên thảo luận các yếu tố rủi ro của họ về ung thư vú với bác sĩ.

  • Liệu pháp nội tiết sau mãn kinh

Liệu pháp nội tiết với oestrogen (thường được kết hợp với progesterone) đã được sử dụng trong nhiều năm để giúp giảm nhẹ các triệu chứng mãn kinh và giúp ngăn ngừa loãng xương. Các nghiên cứu trước đây gợi ý nó có thể có nhiều lợi ích sức khỏe khác, nhưng các nghiên cứu gần đây được thiết kế tốt hơn không thấy các lợi ích này. Điều trị này có nhiều tên như là liệu pháp nội tiết sau mãn kinh (PHT), liệu pháp thay thế nội tiết (HRT) và liệu pháp nội tiết mãn kinh (MHT).

Có hai loại liệu pháp nội tiết chính. Đối với những phụ nữ vẫn còn tử cung, các bác sĩ nói chung kê đơn cả oestrogen và progesterone (được gọi là liệu pháp nội tiết kết hợp hay là HT). Progesterone là cần do chỉ mình oestrogen có thể làm tăng rủi ro ung thư tử cung. Đối với những phụ nữ không còn tử cung nữa, có thể kê đơn một mình oestrogen, được gọi là liệu pháp thay thế oestrogen (ERT) hoặc chỉ là liệu pháp oestrogen (ET).

Các nghiên cứu chỉ ra rằng liệu pháp nội tiết kết hợp sau mãn kinh làm tăng rủi ro mắc ung thư vú. Nó cũng có thể làm tăng khả năng chết vì ung thư vú. Việc sử dụng chỉ oestrogen dường như không làm tăng rủi ro phát triển ung thư vú.

2.2.3 Cho con bú

Một số nghiên cứu gợi ý rằng cho con bú có thể giảm làm một chút rủi ro ung thư vú, đặc biệt là nếu tiếp tục cho con bú tới hai tuổi rưỡi. Nhưng đây là lĩnh vực khó nghiên cứu.

Giải thích cho ảnh hưởng có thể này là cho con bú làm giảm tổng số chu kỳ kinh nguyệt cả đời của phụ nữ (tương tự như bắt đầu kinh nguyệt ở tuổi muộn hơn hoặc mãn kinh sớm).

2.2.4 Uống rượu

Uống rượu rõ ràng liên quan tới rủi ro gia tăng phát triển ung thư vú. Rủi rỏ tăng lên với lượng rượu uống vào. So với những người không uống rượu, phụ nữ uống 1 khẩu phần rượu một ngày gia tăng rủi ro rất ít, những người uống từ 2 tới 5 khẩu phần rượu một ngày có rủi ro tăng 1,5 lần so với những người không uống. Uống quá nhiều rượu cũng được biết là làm tăng rủi ro phát triển một vài loại ung thư khác.

  • Thừa cân hoặc béo phì

Thừa cân hoặc béo phì sau mãn kinh làm tăng rủi ro ung thư vú. Trước khi mãn kinh buồng trứng sản sinh ra hầu hết oestrogen và mô mỡ sản sinh một lượng nhỏ oestrogen. Sau mãn kinh (khi buồng trứng dừng sản sinh oestrogen), hầu hết oetrogen của phụ nữ là từ mô mỡ. Có nhiều mô mỡ sau mãn kinh có thể làm tăng rủi ro mắc ung thư vú do tăng mức oestrogen. Và phụ nữ thừa cân có xu hướng có mức insulin trong máu cao hơn. Mức insulin trong máu cao hơn đã được thấy có liên quan tới một số ung thư, kể cả ung thư vú.

2.2.6 Hoạt động thể lực

Ngày càng nhiều bằng chứng cho thấy rằng hoạt động thể lực dưới dạng tập luyện làm giảm rủi ro ung thư vú. Câu hỏi chính là tập bao nhiêu là đủ. Trong một nghiên cứu từ Sáng kiến sức khỏe phụ nữ, đi bộ nhanh 1,25 tới 2,5 giờ một tuần làm giảm rủi ro của phụ nữ 18%. Đi bộ trên 10 giờ một tuần làm giảm rủi ro đi thêm một chút.

2.2.7 Các yếu tố chưa rõ ràng

  • Chế độ ăn và uống vitamin

Nghiên cứu gần đây đã thấy rủi ro ung thư vú cao hơn ở những phụ nữ ăn nhiều thịt đỏ hơn. Một chế độ ăn ít béo, ít thịt đỏ và thịt đã qua chế biến công nghiệp, và nhiều rau và trái cây có thể có nhiều lợi ích sức khỏe khác.

  • Hóa chất trong môi trường

Rất nhiều nghiên cứu đã được báo cáo và nhiều nghiên cứu đang được thực hiện để hiều các ảnh hưởng có thể của môi trường lên rủi ro ung thư vú.

Các hợp chất trong môi trường có các tính chất giống như oestrogen được quan tâm đặc biệt. Ví dụ, các chất được tìm thấy trong một số plastic, các mỹ phẩm và sản phẩm chăm sóc cá nhân, thuốc bảo vệ thực vật (như là DDE) và các PCB ( các biphenyl clo hóa đa vòng) dường như có các tính chất ấy. Về lý thuyết các chất này ảnh hưởng tới rủi ro ung thư vú.

  • Hút thuốc lá

Trong những năm gần dây, nhiều nghiên cứu đã thấy rằng hút thuốc nhiều trong thời gian dài có liên hệ tới rủi ro cao mắc ung thư vú. Một số nghiên cứu đã thấy rằng rủi ro cao hơn ở những nhóm người nào đó, như là phụ nữ bắt đầu hút thuốc trước khi họ có con đầu lòng.

Cả hút thuốc chủ động và thụ động có chứa các hóa chất khi ở nồng độ cao gây ung thư vú ở loài gậm nhấm. Các hóa chất trong khói thuốc lá đi vào mô vú và được tìm thấy trong sữa mẹ.

Trong bất kỳ trường hợp nào, mối liên hệ có thể với ung thư vú vẫn là lý do nữa để tránh hút thuốc thụ động.

  • Làm việc ban đêm

Một vài nghiên cứu đã gợi ý rằng phụ nữ làm việc ban đêm – ví dụ, điều dưỡng làm việc ca đêm – có thể có rủi ro gia tăng phát triển ung thư vú. Đây là khám phá tương đối gần, và nhiều nghiên cứu đang tập trung vào vấn đề này. Một số nhà nghiên cứu nghĩ ảnh hưởng có thể là do những thay đổi lượng melatonin, một chất nội tiết mà sự sản xuất ra bị ảnh hưởng bởi việc phơi cơ thể ra ánh sáng, nhưng các chất nội tiết khác cũng đang được nghiên cứu.

  1. Các dấu hiệu của ung thư vú

Triệu chứng phổ biến nhất của ung thư vú là một cục hoặc khối mới. Khối không đau có bờ không đều nhiều khả năng là ung thư, nhưng ung thư vú có thể mềm hoặc tròn, thậm chí còn không đau. Vì lý do này, điều quan trọng là có bất kỳ khối hoặc cục mới hoặc có những thay đổi ở vú thì cần được khám bởi bác sĩ chuyên môn có kinh nghiệm trong chuẩn đoán bệnh của vú.

Các triệu chứng có thể khác của ung thư vú gồm:

  • Sưng cả vú hoặc một phần của vú (thậm chí nếu không cảm thấy cục thấy rõ)
  • Kích thích da hoặc co rút da
  • Đau vú hoặc đau núm vú
  • Co tụt núm vú vào trong
  • Da vú hoặc núm vú đỏ lên, có vảy hoặc dày lên
  • Tiết dịch núm vú (trừ sữa)

Đôi khi ung thư vú có thể lan tỏa tới các hạch bạch huyết phía dưới cánh tay hoặc xung quanh xương đòn và làm cho những chỗ này cứng hoặc sưng lên, thậm chí trước khi khối u ban đầu ở mô vú đủ to để sờ thấy được. Các hạch bạch huyết sưng to cũng cần được báo với bác sĩ.

Mặc dầu bất kỳ triệu chứng nào trong số này có thể gây ra bởi các bệnh khác chứ không phải bởi ung thư vú, nếu bạn có các triệu chứng này, nên báo với bác sĩ để có thể tìm ra nguyên nhân.

Các giai đoạn ung thư vú

Giai đoạn mô tả mức độ ung thư trong cơ thể, được dựa trên liệu ung thư là xâm lấn hay không xâm lấn, kích thước của khối u, có bao nhiêu hạch bạch huyết dương tính, và liệu ung thư vú đã lan tới các cơ quan khác của cơ thể hay chưa. Giai đoạn ung thư là một trong những yếu tố quan trọng nhất trong xác định tiên lượng và các lựa chọn điều trị.

Phân giai đoạn là quá trình tìm xem ung thư lan rộng như thế nào khi được chuẩn đóan. Phụ thuộc vào kết quả khám và sinh thiết, bác sĩ có thể cho làm thêm các chuẩn đoán hình ảnh như là chụp X quang ngực, chụp X quang cả hai vú, scan xương, chụp CT, chụp Cộng hưởng từ (MRI) và PET/CT. Cũng có thể làm xét nghiệm máu để đánh giá sức khỏe tổng thể và đôi khi có thể chỉ ra liệu ung thư đã lan tới các cơ quan nào đó.

4.1 Chia giai đoạn bằng con số

Giai đoạn thường được biểu thị bằng con số trên thang đo từ 0 tới IV – với giai đoạn 0 mô tả ung thư không xâm lấn tức là vẫn ở nguyên vị trí ban đầu và giai đoạn IV mô tả ung thư xâm lấn đã di căn tới các các bộ phận khác của cơ thể.

4.1.1 Giai đoạn 0

Giai đoạn 0 mô tả ung thư vú không xâm lấn như là Ung thư ống dẫn sữa tại chỗ (DCIS). Ở giai đoạn 0, không có bằng chứng về các tế bào ung thư hoặc các tế bào bất thường chưa phải là ung thư đi quá phần của vú chỗ nó khởi phát, hoặc đi vào (xâm lấn) mô bình thường bên cạnh.

4.1.2 Giai đoạn I

Giai đoạn I mô tả ung thư vú xâm lấn (các tế bào ung thư đang đi vào mô vú bình thường xung quanh). Giai đoạn I được chia thành giai đoạn IA và IB.

Giai đoạn IA mô tả ung thư vú xâm lấn trong đó:

  • Khối u có kích thước tới 2 cm và
  • ung thư chưa lan ra bên ngoài vú, không có hạch bạch huyết nào dương tính.

Giai đoạn IB mô tả ung thư vú xâm lấn trong đó:

  • Không có khối u trong vú mà thay vào đó tìm thấy nhiều nhóm nhỏ các tế bào ung thư – lớn hơn 0,2 mm nhưng không quá 2 mm – trong các hạch bạch huyết hoặc
  • Không có khối u trong vú lớn hơn 2 cm và tìm thấy nhiều nhóm nhỏ các tế bào ung thư lớn hơn 0,2 mm nhưng không quá 2 mm trong hạch bạch huyết.

Giai đoạn II

Giai đoạn II được chia thành II A và IIB.

Giai đoạn IIA mô tả ung thư vú xâm lấn trong đó:

  • Không tìm thấy khối u trong vú, nhưng tìm thấy ung thư (lớn hơn 2 mm) ở 1 tới 3 hạch bạch huyết trong nách hoặc trong hạch bạch huyết gần xương ức (tìm thấy trong khi sinh thiết hạch gác) hoặc
  • Khối u có kích thước 2 cm hoặc nhỏ hơn và đã lan tới hạh bạch huyết trong nách hoặc
  • Khối u lớn hơn 2 cm nhưng chưa tới 5 cm và chưa lan tới hạch bạch huyết trong nách.

Giai đoạn IIB mô tả ung thư vú xâm lấn trong đó:

  • Khối u lớn hơn 2 cm nhưng chưa tới 5 cm; tìm thấy nhiều nhóm nhỏ các tế bào ung thư vú – lớn hơn 0,2 mm nhưng chưa tới 2 mm trong hạch bạch huyết hoặc
  • Khối u lớn hơn 2 cm nhưng chưa tới 5 cm; ung thư đã lan tới 1 tới 3 hạch bạch huyết trong nách hoặc tới các hạch bạch huyết gần xương ức (tìm thấy trong khi sinh thiết hạch gác) hoặc
  • Khối u lớn hơn 5 cm nhưng chưa lan tới hạch bạch huyết trong nách

4.1.4 Giai đoạn III

Giai đoạn III được chia thành IIIA, IIIB và IIIC.

Giai đoạn IIIA mô tả ung thư vú xâm lân trong đó:

  • không tìm thấy khối trong vú hoặc khối u có thể có kích thước bất kỳ; tìm thấy ung thư trong 4 tới 9 hạch bạch huyết trong nách hoặc trong hạch bạch huyết gần với xương ức (tìm thấy trong khi chuẩn đoán hình ảnh hoặc khám lâm sàng) hoặc
  • Khối u lớn hơn 5 cm; tìm thấy nhiều nhóm nhỏ casc tế bào ung thư vú (lớn hơn 0,2 mm nhưng chưa tới 2 mm) trong hạch bạch huyết hoặc
  • khối u lớn hơn 5 cm; ung thư đã lan tới 1 tới 3 hạch bạch huyết trong nách hoặc tới hạch bạch huyết gần với xương ức (tìm thấy trong khi sinh thiết hạch gác)

Giai đoạn IIIB mô tả ung thư vú xâm lấn trong đó:

  • Khối u có kích thước bấ kỳ và đã lan tới thành ngực và/hoặc da trên vú và gây ra hiện tượng sưng hoặc có vết loét và
  • Có thể đã lan tới 9 hạch bạch huyết trong nách hoặc
  • Có thể đã lan tới hạch bạch huyết gần xương ức

Giai đoạn IIIC mô tả ung thư vú xâm lấn trong đó:

  • Có thể không có dấu hiệu của ung thư ở vú hoặc nếu có một khối u thì khối u có thể có kích thước bất kỳ và có thể đã lan tới thành ngực và/hoặc da trên vú và
  • Ung thư đã lan tới 10 hạch hạch buyết trong nách trở lên hoặc
  • Ung thư đã lan tới các hạch bạch huyết ở trên hoặc dưới xương đòn
  • Ung thư đã lan tới hạch bạch huyết trong nách hoặc tới hạch bạch huyết gần xương ức.

4.1.5 Giai đoạn IV

Giai đoạn IV mô tả ung thư vú xâm lấn đã lan quá vú và các hạch bạch huyết gần đó tới các cơ quan khác của cơ thể như là phổi, các hạch bạch huyết ở xa, da, xương, gan hoặc não.

Có thể dùng từ “Tiến triển” hoặc “Di căn” để mô tả ung thư vú giai đoạn IV. Ung thư có thể là ở giai đoạn IV ngay từ lần chuẩn đoán đầu tiên hoặc nó có thể là do tái phát của ung thư vú trước đó đã lan tới các bộ phận khác của cơ thể.

4.2 Phân chia giai đoạn theo hệ thống Hệ thống TNM của Liên ủy bang Mỹ về Ung thư (AJCC)

Hệ thống giai đoạn TNM phân loại ung thư dựa trên giai đoạn T, N và M:

  • Chữ cái T tiếp theo là con số từ 0 tới 4 mô tả kích thước khối u và sự lan tỏa tới da hoặc tới thành ngực phía dưới vú. Con số T càng cao nghĩa là khối u càng lớn và/hoặc lan tới mô gần vú
  • Chữ cái N tiếp theo là con số từ 0 tới 3 chỉ ra liệu ung thư đã lan tới hạch bạch huyết gần ngực chưa, và nếu đã lan thì có bao nhiêu hạch bạch huyết bị ảnh hưởng.
  • Chữ cái M tiếp theo là số 0 hoặc 1 chỉ ra liệu ung thư đã lan tới các cơ quan xa hay chưa – ví dụ, phổi hoặc xương.
Giai đoạn 0 Tis, No, Mo Đây chính là ung thư ống dẫn sữa tại chỗ (DCIS), dạng tiền ung thư vú. Nhiều người coi DCIS là dạng ung thư vú sớm nhất. Trong DCIS, các tế bào ung thư vẫn ở trong ống dẫn sữa và chưa xâm lấn sâu vào mô mỡ xung quang ở vú.

Carcinoma tiểu thùy tại chỗ (LCIS) đôi khi cũng được phân loại giai đoạn 0, nhưng hầu hết các bác sĩ nội ung thư tin rằng nó không phải là ung thư thực sự hoặc tiền ung thư.

Bệnh Paget núm vú (không có khối u phía dưới) cũng ở giai đoạn 0.

Trong tất cả các trường hợp ung thư chưa lan tới hạch bạch huyết hoặc các vị trí xa.

Giai đoạn IA T1, No, Mo Khối u lớn hơn 2 cm hoặc nhỏ hơn (T1) và chưa lan tới hạch bạch huyết (No) hoặc các vị trí xa (Mo)
Giai đoạn IB To hoặc T1, N1mi, Mo Khối u lớn hơn 2 cm (hoặc không tìm thấy) (To hoặc T1) với di căn vi thể ở 1 tới 3 hạch bạch huyết trong nách (ung thư trong hạch bạch huyết trong nách lớn hơn 0,2 mm và có trên 200 tế bào ung thư nhưng chưa lớn hơn 2 mm (N1mi). Ung thư chưa lan tới các vị trí xa.
Giai đoạn IA To hoặc T1, N1 (nhưng không phải N1mi), Mo Khối u có kích thước 2 cm hoặc nhỏ hơn (hoặc không tìm thấy khối u) (T1 hoặc To) và hoặc:

• Đã lan tới 1 tới 3 hạch bạch huyết trong nách với ung thư trong hạch bạch huyết lớn hơn 2 mm (N1a) hoặc

• Tìm thấy lượng vô cùng nhỏ ung thư trong hạch bạch huyết trong vú (gần với xương ức) hoặc sinh thiết hạch gác (N1b) hoặc

• Đã lan tới 1 tới 3 hạch bạch huyết trong nách và tới hạch bạch huyết trong vú (tìm thấy khi sinh thiết hạch gác) (N1c)

Ung thư chưa lan tới các vị trí xa (Mo)

HOẶC
T2, No, Mo Khối u lớn hơn 2 cm nhưng chưa tới 5 cm (T2) nhưng chưa lan tới hạch bạch huyết (No) hoặc tới các vị trí xa (Mo)
Giai đoạn IIB T2, N1, Mo Khối u lớn hơn 2 cm nhưng chưa tới 5 cm (T2) nhưng lan tới 1 tới 3 hạch bạch huyết trong nách. Ung thư chưa lan tới các vị trí xa (Mo)
HOẶC
T3, No, Mo Khối u lớn hơn 5 cm nhưng chưa phát triển vào thành ngực hoặc da (T3). Ung thư chưa lan tới hạch bạch huyết (No) hoặc tới các vị trí xa (Mo)
Giai đoạn IIIA To tới T2, N2, Mo Khối u chưa tới 5 cm (hoặc không tìm thấy ung thư) (To tới T2), ung thư đã lan tới 4 tới 9 hạch bạch huyết trong nách hoặc đã làm to hạch bạch huyết trong vú (N2). Ung thư chưa lan tới các vị trí xa (Mo)
HOẶC
T3, N1 tới N2, Mo Khối u chưa lớn hơn 5 cm (hoặc có thể không tìm thấy)(To tới T20. Ung thư đã lan tới 4 tới 9 hạch bạch huyết trong nách, hoặc làm sưng to hạch bạch huyết trong nách (N20. Ung thư chưa lan tới các vị trí xa (Mo)
Giai đoạn IIIB T4, No tới N2, Mo Khối u đã phát triển vào thành ngực hoặc da (T4) và có một trong những điều sau:

• Chưa lan tới hạch bạch huyết (No)

• Đã lan tới 1 tới 3 hạch bạch huyết trong nách và/hoặc tìm thấy lượng vô cùng nhỏ ung thư ở hạch bạch huyết trong vú khi sinh thiết hạch gác (N1)

• Đã lan tới 4 tới 9 hạch bạch huyết trong nách hoặc đã làm hạch bạch huyết trong vú to lên (N2)

Ung thư vú thể viêm được phân loại là T4 và ít nhất ở giai đoạn IIIA. Nếu đã lan tới nhiều hạch bạch huyết gần (N3) thì có thể là giai đoạn IIIC, và nếu đã lan tới các hạch bạch huyết hoặc cơ quan xa (M1) thì sẽ là giai đoạn IV.

Giai đoạn IIIC

 

Bất kỳ T, N3, Mo Khối u có kích thước bất kỳ (hoặc không thể tìm thấy) và có một trong các điều sau:

• Ung thư đã lan tới từ 10 hạch bạch huyết trở lên (N3)

• Ung thư đã lan tới các hạch bạch huyết dưới xương đòn (N3)

• Ung thư đã lan tới hạch bạch huyết ở trên xương đòn (N3)

• Ung thư đã xâm lần vào hạch bạch huyết trong nách và làm sưng to hạch bạch huyết trong vú (N3)

• Ung thư đã lan tới từ 4 hạch bạch huyết trong nách trở lên, và tìm thấy lượng vô cùng nhỏ ung thư trong hạch bạch huyết trong vú khi sinh thiết hạch gác (N3)

Ung thư chưa lan tới các vị trí xa (Mo)

Giai đoạn IV Bất kỳ T, bất kỳ N, M1 Ung thư có thể có kích thước bất kỳ (bất kỳ T) và có thể hoặc có thể chưa lan tới các hạch bạch huyết gần (bất kỳ N). Ung thư đã lan tới các cơ quan hoặc hạch bạch huyết ở xa (M1). Các vị trí phổ biến ung thư lan tới là xương, não, gan, hoặc phổi.

Điều trị ung thư vú

Phẫu thuật ung thư vú

Hầu hết phụ nữ mắc ung thư vú cần phẫu thuật để cắt bỏ khối u vú. Các lựa chọn cho phẫu thuật vú gồm phẫu thuật bảo tồn vú và phẫu thuật cắt bỏ vú (phẫu thuật đoạn nhũ). Vú có thể được tái tạo cùng lúc với phẫu thuật hoặc sau này. Phẫu thuật cũng được dùng để kiểm tra các hạch bạch huyết dưới cánh tay để để xem ung thư có di căn tới đó chưa. Các lựa chọn để kiểm tra hạch bạch huyết gồm sinh thiết hạch gác và giải phẫu hạch bạch huyết trong nách.

1.1 Phẫu thuật bảo tồn vú

Trong phẫu thuật bảo tồn vú, chỉ một phần vú có chứa ung thư được cắt bỏ. Mục tiêu là loại bỏ ung thư cũng như một số mô bình thường xung quanh. Mô vú được loại bỏ nhiều hay ít phụ thuộc vào kích thước và vị trí của khối u và nhiều yếu tố khác.

Nếu tìm thấy tế bào ung thư ở bất kỳ mép nào của mảnh mô được lấy ra, thì gọi là biên dương tính. Khi không tìm thấy tế bào ung thư tại mép của mô, thì gọi là biên âm tính hoặc biên sạch. Sự hiện diện của biên dương tính nghĩa là có thể còn một số tế bào ung thư sót lại sau phẫu thuật. Nếu bác sĩ giải phẫu bệnh tìm thấy biên dương tính trong mô được lấy ra bằng phẫu thuật, thì bác sĩ phẫu thuật cần loại bỏ thêm mô. Phẫu thuật này được gọi là phẫu thuật cắt bỏ lại. Nếu bác sĩ phẫu thuật không thể loại bỏ đủ mô vú để có biên sạch thì có thể cần cắt bỏ cả vú.

Khoảng cách từ khối u tới biên cũng quan trọng. Thậm chí nếu biên “sạch”, thì biên vẫn có thể là “gần” – nghĩa là khoảng cách giữa mép của khối u và mép của mô được loại bỏ là quá nhỏ và có thể cần phẫu thuật thêm.

Hầu hết các phụ nữ cần xạ trị vào ngực sau phẫu thuật bảo tồn. Đôi khi để xạ trị dễ hơn, có thể đặt một cái ghim nhỏ (sẽ hiện ra trên phim X quang) vào vú trong khi phẫu thuật để đánh dấu khu vực.

Đối với những phụ nữ cần hóa trị sau phẫu thuật thì xạ trị thường được trì hoãn cho đến khi hoàn thành hóa trị.

Đối với hầu hết phụ nữ ung thư vú giai đoạn I và II, phẫu thuật bảo tồn cộng với xạ trị có hiệu quả như là cắt bỏ vú. Tỷ lệ sống sót của phụ nữ được điều trị bằng hai phương thức này là như nhau. Nhưng phẫu thuật bảo tồn vú không phải là lựa chọn cho tất cả các phụ nữ mắc ung thư vú.

Các tác dụng phụ: Tác dụng phụ của các phẫu thuật này gồm đau, sưng tạm thời, sưng phù và mô sẹo cứng hình thành tại vị trí phẫu thuật. Như với tất cả các phẫu thuật, có thể có chảy máu và nhiễm trùng tại ví trí mổ.

Phần vú bị cắt bỏ càng lớn thì càng nhiều khả năng hình dạng vú sẽ thay đổi sau đó. Nếu vú nhìn rất khác sau phẫu thuật thì có thể cần phẫu thuật tái tạo vú, hoặc cần giảm kích thước vú không bị bệnh để làm cho hai vú cân đối. Thậm chí có thể thực hiện điều này trong phẫu thuật ban đầu. Bạn cần nói chuyện với bác sĩ (có thể với cả bác sĩ phẫu thuật thẩm mỹ) trước khi phẫu thuật để có ý tưởng về việc vú của bạn trông như thế nào sau đó, và để biết bạn có thể có lựa chọn nào.

1.2 Phẫu thuật cắt bỏ vú

Phẫu thuật cắt bỏ vú nghĩa là tất cả mô vú được cắt bỏ, đôi khi cùng với cả các mô gần đó.

1.2.1 Phẫu thuật cắt bỏ vú đơn giản: trong quy trình được gọi là cắt bỏ vú toàn bộ này, bác sĩ phẫu thuật cắt bỏ toàn bộ vú, kể cả núm vú nhưng không lấy ra các hạch bạch huyết dưới cánh tay hoặc mô cơ từ phía dưới vú (đôi khi hạch bạch huyết được lấy ra trong một quy trình khác trong cùng phẫu thuật). Đôi khi cả hai vú được cắt bỏ (phẫu thuật cắt bỏ vú hai bên), thường như là phẫu thuật phòng ngừa ở những phụ nữ có rủi ro rất cao bị ung thư ở vú kia. Hầu hết phụ nữ, nếu được nhập viện, có thể về nhà vào ngày hôm sau. Phẫu thuật cắt bỏ vú đơn giản là loại phẫu thuật đơn giản nhất được dùng để điều trị ung thư vú.

1.2.2 Phẫu thuật cắt bỏ vú giữ lại da: Đối với một số phụ nữ đang cân nhắc tái tạo vú tức thì thì có thể thực hiện phẫu thuật cắt bỏ vú giữ lại da. Trong quy trình này, hầu hết da trên vú (trừ núm vú và quầng vú) được giữ lại nguyên. Phẫu thuật này giống như là phẫu thuật cắt bỏ vú đơn giản. Lượng mô vú bị cắt bỏ là giống như trong phẫu thuật cắt bỏ vú đơn giản.

Chỉ dùng phẫu thuật này khi đã lên kế hoạch tái tạo vú. Phẫu thuật này có thể không phù hợp cho các khối u lớn hoặc các khối u gần với bề mặt của da. Sử dụng túi nâng ngực hoặc mô từ các bộ phận khác của cơ thể để tái tạo vú.

Một biến thể khác của phẫu thuật giữ lại da là phẫu thuật giữ lại núm vú. Quy trình này thường là lựa chọn cho những phụ nữ có ung thư nhỏ giai đoạn sớm gần với phần ngoài của vú, với việc không có dấu hiệu của ung thư gần da hoặc gần núm vú. Trong quy trình này, mô vú được cắt bỏ, nhưng da vú và núm vú được giữ lại, tiếp theo sau là tái tạo vú. Bác sĩ phẫu thuật thường cắt bỏ mô vú phía dưới núm vú (và quầng vú) trong khi phẫu thuật để kiểm tra xem có tế bào ung thư hay không. Nếu tìm thấy tế bào ung thư trong mô này thì phải bỏ núm vú. Thậm chí không tìm thấy tế bào ung thư dưới núm vú, một số bác sĩ còn xạ trị núm vú trong hoặc sau phẫu thuật để có gắng giảm rủi ro ung thư quay trở lại.

Phẫu thuật giữ lại núm vú vẫn còn một số vấn đề. Núm vú không có nguồn cung cấp máu tốt, nên đôi khi núm vú bị quắt lại hoặc bị biến dạng. Do các dây thần kinh bị cắt đi, chỉ có chút ít cảm giác hoặc không có cảm giác ở núm vú. Ở những phụ nữ có vú lớn, núm vú có thể trông không hợp sau khi vú được tái tạo. Kết quả là nhiều bác sĩ cảm thấy phẫu thuật được thực hiện tốt nhất ở những phụ nữ có ngực nhỏ hoặc trung bình. Quy trình này để lại ít vết sẹo có thể nhìn thấy được hơn, nhưng nếu không được phẫu thuật đúng thì nó có thể để lại nhiều mô vú hơn là các dạng phẫu thuật cắt bỏ vú khác. Điều đó có thể dẫn đến rủi ro cao hơn phát triển ung thư hơn là phẫu thuật giữ lại da hoặc phẫu thuật cắt bỏ vú đơn giản.

1.2.3 Phẫu thuật cắt bỏ vú triệt căn cải biên: quy trình này là quy trình cắt bỏ vú đơn giản và loại bỏ các hạch bạch huyết trong nách. Phẫu thuật lấy các hạch bạch huyết ra được thảo luận chi tiết hơn ở cuối phần này.

1.2.4 Phẫu thuật cắt vú triệt căn: trong phẫu thuật tàn phá này, bác sĩ phẫu thuật cắt bỏ toàn bộ vú, các hạch bạch huyết trong nách và các cơ thành ngực phía dưới vú. Phẫu thuật này trước kia rất phổ biến, nhưng người ta thấy phẫu thuật ít tàn phá hơn (như là phẫu thuật cắt bỏ vú triệt căn cải biên) cũng có hiệu quả. Điều đó có nghĩa rằng không cần đến sự biến dạng và các tác dụng phụ của phẫu thuật cắt bỏ vú triệt căn nữa, nên phẫu thuật này hiện hiếm khi được thực hiện. Phẫu thuật này vẫn có thể được thực hiện cho các khối u to đang phát triển vào các cơ thành ngực phía dưới vú.

Các tác dụng phụ có thể: Ngoài đau đớn sau phẫu thuật và thay đổi thấy rõ về hình dạng vú, các tác dụng phụ có thể của phẫu thuật cắt vú gồm nhiễm trùng vết thương, tụ máu và tụ dịch ở vết mổ. Nếu cũng lấy ra các hạch bạch huyết thì có thể xuất hiện các tác dụng phụ khác (xem “Phẫu thuật lấy hạch bạch huyết” ở dưới).

1.3 Chọn giữa phẫu thuật bảo tồn vú và phẫu thuật cắt bỏ vú

Nhiều phụ nữ mắc ung thư giai đoạn sớm có thể chọn giữa phẫu thuật bảo tồn vú và phẫu thuật cắt bỏ vú.

Ưu điểm chính của phẫu thuật bảo tồn vú là phụ nữ giữ lại được hầu hết vú. Nhược điểm là cần xạ trị sau phẫu thuật bảo tồn – thường mất 5 tới 6 tuần. Một số ít phụ nữ được phẫu thuật bảo tồn vú có thể không cần xạ trị trong khi một số khác được phẫu thuật cắt bỏ vú vẫn cần xạ trị vào khu vực vú.

Khi quyết định giữa phẫu thuật bảo tồn vú và phẫu thuất cắt bỏ vú, chắc chắn cần biết được tất cả sự thật. Bạn ban đầu có thể thích phẫu thuật cắt bỏ vú như là cách thức để “Bỏ vú đi càng nhanh càng tốt”. Cảm giác này có thể dẫn tới việc nhiều phụ nữ ưa thích phẫu thuật cắt bỏ vú hơn thậm chí khi bác sĩ phẫu thuật không muốn thế. Nhưng sự thực là trong hầu hết các trường hợp, phẫu thuật cắt bỏ vú không mang lại cho bạn cơ hội tốt hơn để sống lâu hơn hoặc tiên lượng tốt hơn. Các nghiên cứu theo dõi hàng ngàn phụ nữ trong hơn 20 năm cho thấy khi có thể thực hiện phẫu thuật bảo tồn vú mà lại phẫu thuật cắt bỏ vú thì không có bất kỳ cơ hội sống sót tốt hơn nào.

Hầu hết các bệnh nhân và các bác sĩ thích phẫu thuật bảo tồn vú và xạ trị hơn khi nó là lựa chọn hợp lý, nhưng sự lựa chọn của bạn phụ thuộc vào nhiều yếu tố như là:

  • Việc mất vú làm bạn cảm thấy thế nào
  • Xạ trị làm bạn cảm thấy thế nào
  • Bạn phải đi bao lâu để đến nơi xạ trị và xạ trị trong bao lâu
  • Liệu bạn có nghĩ bạn sẽ muốn phẫu thuật thêm để tái tạo vú sau phẫu thuật cắt bỏ vú
  • Bạn ưa thích phẫu thuật cắt bỏ vú như là cách để rũ bỏ ung thư càng nhanh càng tốt
  • Bạn sợ ung thư quay lại.

Đối với một số phụ nữ, phẫu thuật cắt vú có thể rõ ràng là lựa chọn tốt. Ví dụ, phẫu thuật bảo tồn thường không được khuyến nghị cho:

  • Những phụ nữ đã được xạ trị vào bên vú bị ung thư
  • Những phụ nữ có hai hoặc nhiều khu vực bị ung thư trong cùng vú, các khu vực quá xa nhau để có thể loại bỏ thông qua một đường rạch phẫu thuật trong khi giữ ngoại hình của vú thấy hài lòng.
  • Women whose initial BCS along with re-excision(s) has not completely removed the cancer
  • Những phụ nữ có các bệnh nặng ở mô liên kết nào đó như là bệnh xơ cứng bì hoặc lupus, làm cho họ cực kỳ nhạy cảm với các tác dụng phụ của xạ trị
  • Những phụ nữ đang mang thai yêu cầu xạ trị trong khi vẫn mang thai (rủi ro tới bào thai)
  • Những phụ nữ có khối u to (lớn hơn 5 cm) không co lại nhiều với hóa trị tân bổ trợ (mặc dầu điều này cũng phụ thuộc vào kích cỡ ngực).
  • Phụ nữ bị ung thư vú thể viêm
  • Phụ nữ bị ung thư vú tương đối to so với kích cỡ vú

Các yếu tố khác cũng cần được lưu ý tới. Ví dụ, phụ nữ trẻ mắc ung thư vú và bị đột biến gen BRCA là có rủi ro rất cao mắc ung thư lần thứ hai. Những phụ nữ này thường cân nhắc cắt bỏ cả vú bên kia để giảm rủi ro này, và do vậy có thể chọn phẫu thuật cắt bỏ vú có ung thư. Có thể thực hiện phẫu thuật cắt bỏ vú hai bên để điều trị ung thư và giảm rủi ro mắc ung thư lần hai.

Điều quan trọng cần hiểu là phẫu thuật cắt bỏ vú thay cho phẫu thuật bảo tồn vú cộng với xạ trị chỉ làm giảm rủi ro phát triển ung thư vú lần thứ hai trong cùng vú chứ không làm giảm khả năng ung thư tái phát ở bộ phận khác của cơ thể. Điều quan trọng là bạn đừng vội ra quyết định, mà thay vào đó là cần có thời gian quyết định liệu phẫu thuật cắt bỏ vú hay phẫu thuật bảo tồn vú cộng với xạ trị là đúng đắn cho bạn.

1.4 Phẫu thuật lấy hạch bạch huyết

Để xác định liệu ung thư vú đã lan tới các hạch bạch huyết trong nách hay chưa, có thể lấy ra một hoặc vài hạch bạch huyết và xem xét dưới kính hiển vi. Điều này là quan trọng để phân độ cho ung thư vú. Khi các hạch bạch huyết có tế bào ung thư, có khả năng cao là tế bào ung thư cũng đã lan qua dòng máu tới các cơ quan khác của cơ thể. Các tế bào này có thể phát triển và gây ra các khối u mới. Các tế bào ung thư trong hạch bạch huyết dưới cánh tay thường là yếu tố quan trọng trong quyết điều điều trị bên cạnh phẫu thuật.

1.4.1 Phẫu thuật lấy hạch bạch huyết trong nách (ALND): trong quy trình này, từ 10 tới 40 (thường là chưa tới 20 hạch bạch huyết được lấy ra từ khu vực dưới cánh tay (nách) và kiểm tra xem ung thư đã lan tới hay chưa. Phẫu thuật lấy hạch bạch huyết trong nách thường được thực hiện cùng lúc với phẫu thuật cắt bỏ vú hoặc phẫu thuật bảo tồn vú, nhưng có thể được thực hiện trong cuộc phẫu thuật thứ hai. Trước kia đây là cách thức phổ biến nhất để kiểm tra xem liệu ung thư đã lan tới các hạch bạch huyết gần đấy chưa và hiện nay vẫn được thực hiện trên một số bệnh nhân. Ví dụ có thể thực hiện phẫu thuật lấy hạch bạch huyết trong nách nếu sinh thiết trước đó đã cho thấy một hoặc vài hạch bạch huyết trong nách có tế bào ung thư.

1.4.2 Sinh thiết hạch gác (SLNB): mặc dầu phẫu thuật hạch lấy bạch huyết trong nách là phẫu thuật an toàn và có tỷ lệ tác dụng phụ thấp, loại bỏ nhiều hạch bạch huyết làm tăng rủi ro phù tay do tắc bạch mạch. Để giảm rủi ro này, các bác sĩ có thể dùng quy trình sinh thiết hạch gác (SLNB) để kiểm tra hạch bạch huyết trong nách có tế bào ung thư hay không mà không cần lấy nhiều hạch ra.

Trong quy trình này bác sĩ phẫu thuật tìm và lấy ra (các) hạch bạch huyết đầu tiên mà khối u có nhiều khả năng lan tới (các hạch này được gọi là các hạch gác). Để làm việc này, bác sĩ phẫu thuật tiêm một chất có hoạt tính phóng xạ và/hoặc thuốc nhuộm màu xanh lơ vào khối u, khu vực xung quanh khối u hoặc khu vực xung quang núm vú. Các mạch bạch huyết sẽ mang những chất này vào (các) hạch gác.

Sau đó có thể tìm hạch gác bằng một dụng cụ đặc biệt để phát hiện hoạt tính phóng xạ trong các hạch có phóng xạ đi vào, hoặc bằng cách tìm các hạch đã chuyển sang màu xanh lơ. Để kiểm tra kép, thường dùng cả hai phương pháp. Bác sĩ phẫu thuật sau đó cắt da trên khu vực và lấy các hạch có chứa thuốc nhuộm hoặc phóng xạ ra. Bác sĩ giải phẫu bệnh xem xét kỹ các hạch này (thường 2 hoặc 3 hạch). Do lấy ra ít hạch hơn trong phẫu thuật lấy hạch bạch huyết, mỗi hạch được xem xét cẩn thận hơn để phát hiện ung thư.

Đôi khi hạch bạch huyết được kiểm tra xem có tế bào ung thư hay không trong khi phẫu thuật. Nếu tìm thấy ung thư trong hạch gác, bác sĩ phẫu thuật có thể tiếp tục phẫu thuật lấy ra toàn bộ hạch nách. Nếu không nhìn thấy tế bào ung thư trong hạch bạch huyết vào lúc phẫu thuật hoặc nếu hạch gác không được kiểm tra vào lúc phẫu thuật thì (các) hạch bạch huyết sẽ được xem xét cẩn thận hơn trong một vài ngày sau. Nếu tìm thấy ung thư trong hạch bạch huyết thì bác sĩ phẫu thuật có thể khuyến nghị thực hiện phẫu thuật lấy hết hạch bạch huyết sau đó.

Nếu không có tế bào ung thư trong hạch gác, rất nhiều khả năng rằng ung thư chưa lan tới các hạch bạch huyết, nên không cần phẫu thuật lấy hạch bạch huyết ra. Bệnh nhân có thể tránh tác dụng phụ tiềm tàng của phẫu thuật lấy hết hạch bạch huyết.

Cho đến gần đây, nếu (các) hạch bạch huyết có tế bào ung thư thì bác sĩ phẫu thuật sẽ thực hiện phẫu thuật lấy hết hạch bạch huyết để xem có bao nhiêu hạch bạch huyết khác có tế bào ung thư. Nhưng gần đây, các nghiên cứu đã cho thấy rằng không phải luôn cần làm việc này. Trong một số trường hợp, có thể để lại các hạch bạch huyết còn lại là vẫn an toàn. Điều này được dựa trên một vài yếu tố như là loại phẫu thuật được sử dụng để lấy khối u ra, kích thước khối u, và điều trị nào được thực hiện sau phẫu thuật. Dựa trên các nghiên cứu, có thể không cần thực hiện phẫu thuật lấy hạch bạch huyết là lựa chọn cho phụ nữ có khối u có kích thước 5 cm hoặc nhỏ hơn, được phẫu thuật bảo tồn tiếp theo là xạ trị. Do việc này chưa được nghiên cứu đầy đủ ở những phụ nữ đã được phẫu thuật cắt bỏ vú, chưa rõ liệu không thực hiện phẫu thuật lấy hạch bạch huyết sẽ an toàn cho họ hay không.

Sinh thiết hạch gác được thực hiện để xem liệu ung thư đã lan tới các hạch bạch huyết gần đó chưa. Không thực hiện quy trình này nếu đã biết bất kỳ hạch bạch huyết nào có chứa ung thư. Nếu bất kỳ hạch bạch huyết dưới tay hoặc xung quanh xương đòn bị to lên, thì có thể kiểm tra các hạch này để xem ung thư đã lan tới chưa một cách trực tiếp. Thường nhất là thực hiện sinh thiết kim (sinh thiết kim nhỏ hoặc sinh thiết lõi). Trong các quy trình này, bác sĩ phẫu thuật luồn một kim vào hạch bạch huyết để lấy ra lượng nhỏ mô, sau đó mô được xem xét dưới kính hiển vi. Nếu thấy ung thư thì khuyến nghị phẫu thuật lấy hết hạch bạch huyết.

Các tác dụng phụ có thể: Như với bất kỳ phẫu thuật nào, có thể có các tác dụng phụ như đau, sưng, chảy máu và nhiễm trùng.

Ảnh hưởng dài hạn chính có thể của việc lấy hạch bạch huyết trong nách ra là phù tay do tắc mạch bạch huyết. Do bất kỳ chất dịch thừa nào trong tay thông thường đổ vào dòng máu thông qua hệ thống bạch huyết, việc lấy đi các hạch bạch huyết đôi khi chặn đường đổ chất dịch ra khỏi cánh tay, làm cho dịch tích tụ lại dẫn đến làm tay to lên.

Tới 30% phụ nữ được phẫu thuật lấy toàn bộ hạch nách phát triển chứng phù tay do tắc mạch bạch huyết. 3% phụ nữ được sinh thiết hạch gác cũng bị phù tay. Nếu xạ trị được thực hiện sau phẫu thuật thì chứng phù tay càng xảy ra phổ biến hơn. Đôi khi việc to tay kéo dài chỉ vài tuần và sau đó hết đi. Đôi khi, việc to tay kéo dài lâu. Nếu tay bạn bị sưng, cảm thấy căng tức hoặc đau sau phẫu thuật lấy hạch bạch huyết, cần nói với bác sĩ ngay.

Bạn cũng có thể thấy hạn chế cử động ở tay và vai sau phẫu thuật. Điều này phổ biến sau phẫu thuật lấy hạch nách hơn là sinh thiết hạch gác. Bác sĩ có thể cho bạn bài tập để đảm bảo rằng bạn không vĩnh viễn cử động khó khăn. Tê da ở cánh tay trên, mặt trong cánh tay là tác dụng phụ phổ biến khác do dây thần kinh kiểm soát cảm giác ở đây đi qua khu vực hạch bạch huyết.

Một số phụ nữ nhận thấy cơ tay nổi lên dưới tay và có thể kéo dài tới khuỷu tay, đôi khi được gọi là hội chứng vặn cơ, và phổ biến hơn sau phẫu thuật lấy hạch nách hơn là sinh thiết hạch gác. Các triệu chứng có thể không xuất hiện trong hàng tuần hoăc thậm chí vài tháng sau phẫu thuật. Nó có thể gây đau và hạn chế cử động của tay và vai. Chứng này thường mất đi nếu được điều trị mặc dầu một số phụ nữ có thể thấy tập vật lý trị liệu là hữu ích.

Xạ trị cho ung thư vú

Xạ trị là điều trị bằng tia hoặc hạt năng lượng cao phá hủy các tế bào ung thư. Xạ trị vào vú thường được thực hiện sau khi phẫu thuật bảo tồn vú để giảm khả năng ung thư quay trở lại vú hoặc các hach bạch huyết gần đấy. Xạ trị cũng có thể được khuyến nghị sau phẫu thuật cắt bỏ vú ở những bệnh nhân có ung thư lớn hơn 5 cm hoặc khi tìm thấy ung thư ở hạch bạch huyết.

Xạ trị cũng được dùng để điều trị ung thư đã lan tới các khu vực khác, ví dụ tới xương hoặc não.

Xạ trị cũng có thể được thực hiện bên ngoài (xạ ngoài) hoặc xạ trong (điều biến liều).

2.1 Xạ ngoài

Đây là xạ trị phổ biến nhất cho phụ nữ ung thư vú. Tia xạ được tập trung từ máy đặt bên ngoài cơ thể lên khu vực bị ảnh hưởng bởi ung thư vú.

Mức độ xạ phụ thuộc vào liệu thực hiện phẫu thuật cắt bỏ vú hoặc phẫu thuật bảo tồn vú và liệu có hạch bạch huyết dương tính hay không.

Nếu thực hiện phẫu thuật cắt bỏ vú và không có hạch bạch huyết nào có ung thư thì xạ trị hướng vào thành ngực và những nơi tại đó dịch đi ra khỏi cơ thể.

Nếu thực hiện phẫu thuật bảo tồn vú thì gần như thường xuyên toàn bộ vú được xạ, và xạ thêm vào khu vực ở vú tại đó ung thư được lấy đi để ngăn ngừa ung thư quay trở lại khu vực đó. Xạ thêm thường được thực hiện sau khi kết thúc xạ trị toàn vú. Nếu sử dụng cùng máy thì các chùm tia nhắm vào vị trí tại đó ung thư được lấy đi. Hầu hết các phụ nữ không nhận thấy các tác dụng phụ khác nhau giữa xạ trị bổ sung và xạ trị toàn vú.

Nếu tìm thấy ung thư ở các hạch bạch huyết dưới cánh tay, có thể xạ trị cả khu vực này. Trong một số trường hợp, khu vực được điều trị cũng có thể gồm các hạch bạch huyết thượng đòn và các hạch bạch huyết trong tuyến vú (các hạch bạch huyết phía dưới xương ức ở giữa ngực).

Khi được thực hiện sau phẫu thuật thì thường không bắt đầu xạ trị bên ngoài cho đến khi các mô có thể lành hẳn, thường là một tháng hoặc lâu hơn. Nếu thực hiện hóa trị thì xạ trị thường được trì hoãn cho đến khi hoàn thành hóa trị.

Trước khi bắt đầu xạ trị, bác sĩ xạ trị sẽ đo cẩn thận để xác định các góc đúng để nhắm chùm tia xạ tới và để tính liều đúng. Họ sẽ thực hiện đánh dấu mực hoặc các hình xăm nhỏ lên da bạn để hướng dẫn tập trung tia xạ vào đúng khu vực.

Dầu dưỡng da, phấn bột, chất khử mùi và chất chống ra mồ hôi có thể can thiệp vào liệu pháp xạ trị ngoài, nên bác sĩ có thể yêu cầu bạn đừng dùng các chất này cho đến khi hoàn thành điều trị.

Xạ trị ngoài rất giống được chiếu tia X, nhưng bức xạ mạnh hơn. Quy trình không gây đau. Mỗi lần điều trị chỉ kéo dài vài phút, nhưng thời gian chuẩn bị – đưa bạn vào vị trí để điều trị – thường lâu hơn.

Xạ trị vào vú hầu như phổ biến thực hiện 5 ngày trong tuần (thứ 2 tới thứ 6) trong khoảng 5 tới 6 tuần.

Một số phụ nữ có tuổi được phẫu thuật bảo tồn vú đối với ung thư vú giai đoạn sớm không cần xạ trị.

2.2 Xạ trị trong mổ: Xạ trị trong khi mổ (IORT) là một phương thức khác chiếu một liều bức xạ lớn trong phòng mổ ngay sau phẫu thuật bảo tồn vú (trước khi đường rạch khi mổ được đóng lại). IORT yêu cầu thiết bị đặc biệt và hiện chưa có rộng rãi.

Các tác dụng phụ có thể của xạ ngoài

Tác dụng phụ ngắn hạn chỉnh của liệp pháp xạ ngoài là vú bị sưng và cứng lại, da bị thay đổi ở vùng được xạ và mệt rũ. Thay đổi da có thể từ hơi đỏ cho tới cõ chỗ mọng nước và trợt da. Bạn cần tránh phơi nắng vùng da được xạ do phơi nắng làm tình trạng xấu đi. Hầu hết sự thay đổi ở da sẽ có chiều hướng tốt lên trong vòng vài tháng. Những thay đổi ở mô vú thường mất đi trong vòng 6 tới 12 tháng nhưng có thể cần tới 2 năm.

  1. Hóa trị cho ung thư vú

Hóa trị là điều trị bằng các loại thuốc diệt ung thư, có thể theo đường truyền (đưa thuốc vào ven) hoặc theo đường uống. Thuốc đi theo dòng máu tới các tế bào ung thư trong hầu hết các cơ quan của cơ thể. Hóa trị được thực hiện theo chu kỳ, với mỗi chu kỳ điều trị tiếp theo sau là chu kỳ phục hồi. Điều trị thường kéo dài vài tháng.

3.1 Khi nào dùng hóa trị

Hóa trị có thể được khuyến nghị cho một vài tình huống.

3.1.1 Sau phẫu thuật (hóa trị bổ trợ): khi liệu pháp được thực hiện cho các bệnh nhân không có bằng chứng ung thư sau phẫu thuật thì được goi là hóa trị bổ trợ. Phẫu thuật dược dùng để loại bỏ tất cả ung thư có thể nhìn thấy, nhưng liệu pháp bổ trợ được sử dụng để tiêu diệt bất kỳ tế bào ung thư nào có thể còn lại hoặc đã lan tỏa nhưng không thể nhìn thấy thậm chí trên các hình ảnh chụp chiếu. Nếu các tế bào ung thư này được để phát triển, chúng có thể hình thành các khối u mới tại các chỗ khác trong cơ thể. Liệu pháp bổ trợ sau phẫu thuật bảo tồn vú hoặc cắt bỏ vú làm giảm rủi ro ung thư vú quay lại. Xạ trị, hóa trị, điều trị đích và liệu pháp nội tiết tất cả có thể được dùng như là các điều trị bổ trợ.

3.1.2 Trước phẫu thuật (hóa trị tân bổ trợ): liệu pháp tân bổ trợ giống như liệu pháp bổ trợ trừ điều rằng bạn được điều trị (hoặc ít nhất bắt đầu điều trị) trước phẫu thuật thay cho sau phẫu thuật. Về khả năng sống sót và ung thư quay trở lại, không có gì khác nhau giữa hóa trị trước và sau phẫu thuật. Nhưng hóa trị tân bổ trợ có hai lợi ích. Trước tiên hóa trị có thể làm co khối u để có thể loại bỏ khối u với phẫu thuật ít tàn phá hơn. Đó là lý do tại sao hóa trị tân bổ trợ thường được sử dụng để điều trị ung thư quá to không thể phẫu thuật loại bỏ vào lúc chuẩn đoán (được gọi là tiến triển tại chỗ). Và điều nữa là bằng cách hóa trị trước khi loại bỏ khối u, bác sĩ có thể thấy ung thư đáp ứng như thế nào. Nếu loạt thuốc đầu tiên không làm co khối u thì bác sĩ sẽ biết rằng các thuốc khác là cần thiết.

3.1.3 Đối với ung thư vú tiến triển: Hóa trị cũng có thể được sử dụng làm điều trị chính cho những phụ nữ mà ung thư đã lan ra ngoài vú và khu vực dưới cánh tay khi được chuẩn đoán hoặc sau điều trị ban đầu. Khoảng dài thời gian điều trị phụ thuộc vào liệu ung thư co lại hay không, co lại bao nhiêu và bạn dung nạp điều trị tốt như thế nào.

3.2 Hóa trị được thực hiện như thế nào?

Trong hầu hết các trường hợp (đặc biệt là điều trị bổ trợ và tân bổ trợ), hóa trị có hiệu quả nhất khi kết hợp từ hai loại thuốc trở lên. Nhiều kết hợp thuốc đang được sử dụng, và vẫn chưa rõ rằng sự kết hợp nào rõ ràng là tốt nhất. Các nghiên cứu lâm sàng tiếp tục so sánh các điều trị có hiệu quả nhất ngày nay so với điều trị nào đó có thể tốt hơn.

Các thuốc hóa chất phổ biến nhất được dùng cho ung thư vú giai đoạn sớm gồm các anthracyline (như là doxorubicin/ Adriamycin® and epirubicin/Ellence®) và các taxane (như là paclitaxel/Taxol® và docetaxel/Taxotere®). Các thuốc này có thể được sử dụng kết hợp với các thuốc khác nào đó như là fluorouracil (5-FU), cyclophosphamide (Cytoxan®), và carboplatin.

Đối với ung thư có Her2 dương tính, thường được điều trị bằng thuốc đích trastuzumab (Herceptin®) với một trong các thuốc taxane. Cũng có thể kết hợp Pertuzumab (Perjeta®) với trastuzumab và docetaxel cho ung thư dương tính với Her2. (Xem phần liệu pháp trúng đích cho ung thư vú để có thêm thông tin về thuốc này).

Nhiều thuốc hóa chất được sử dụng trong điều trị ung thư vú tiến triển như là:

  • Docetaxel
  • Paclitaxel
  • Các tác nhân Platinum (cisplatin, carboplatin)
  • Vinorelbine (Navelbine®)
  • Capecitabine (Xeloda®)
  • Liposomal doxorubicin (Doxil®)
  • Gemcitabine (Gemzar®)
  • Mitoxantrone
  • Ixabepilone (Ixempra®)
  • Albumin-bound paclitaxel (nab-paclitaxel or Abraxane®)
  • Eribulin (Halaven®)

Mặc dầu kết hợp thuốc thường được dùng để điều trị ung thư vú giai đoạn sớm, ung thư vú tiến triển lại thường xuyên được điều trị bằng loại hóa chất đơn lẻ hơn. Vẫn có một số kết hợp, như là carboplatin hoặc cisplatin cộng với gemcitabine được sử dụng phổ biến đề điều trị ung thư vú tiến triển.

Một hoặc nhiều loại thuốc nhắm trúng đích HER2 có thể được dùng với hóa trị cho các khối u có HER2 dương tính (các thuốc này được bàn luận chi tiết hơn trong mục Liệu pháp trúng đích cho ung thư vú).

Các bác sĩ thực hiện điều trị hóa chất theo chu kỳ, với mỗi chu kỳ điều trị tiếp theo là chu kỳ nghỉ ngơi để cơ thể có thời gian hồi phục khỏi ảnh hưởng của thuốc. Hóa chất bắt đầu vào ngày đầu tiên của mỗi chu kỳ, nhưng lịch có thể thay đổi phụ thuộc vào loại thuốc được sử dụng. Ví dụ, với một số loại thuốc, hóa chất được truyền chỉ trong ngày đầu tiên của chu kỳ. Với các loại khác, hóa chất được truyền hàng ngày trong 14 ngày, hoặc truyền hàng tuần trong 2 tuần. Sau đó vào lúc kết thúc chu kỳ, lịch truyền hóa chất lặp lại để bắt đầu chu kỳ tiếp theo. Các chu kỳ hầu hết kéo dài 2-3 tuần, nhưng thay đổi theo loại thuốc cụ thể hoặc các kết hợp các loại thuốc. Một số loại thuốc được truyền thường xuyên hơn. Hóa trị bổ trợ và tân bổ trợ thường được truyền trong 3 tới 6 tháng, phụ thuộc vào loại thuốc sử dụng. Quá trình điều trị có thể dài hơn đối với ung thư vú tiến triển và được dựa trên thuốc có tác dụng tốt như thế nào và bạn chịu tác dụng phụ gì.

3.3 Các tác dụng phụ có thể

Thuốc hóa chất làm việc bằng cách tấn công các tế bào đang phân chia nhanh, đó là lý do tại sao thuốc có hiệu quả chống lại tế bào ung thư. Nhưng các tế bào khác trong cơ thể, như là các tế bào trong tủy xương, niêm mạc miệng và ruột non, và các nang tóc cũng phân chia nhanh chóng. Các tế bào này nhiều khả năng cũng bị ảnh hưởng bởi hóa chất, có thể dẫn tới tác dụng phụ. Một số phụ nữ chịu nhiều tác dụng phụ, những người khác có thể chỉ chịu vài tác dụng phụ.

Các tác dụng phụ của hóa chất phụ thuộc vào loại thuốc, lượng dùng và khoảng thời gian dài điều trị. Một số trong các tác dụng phụ phổ biến nhất gồm:

  • Rụng tóc và thay đổi móng tay/chân
  • Đau mồm
  • Mất cả giác ngon miệng hoặc tăng cảm giác ngon miệng
  • Buồn nôn và nôn
  • Hạ bạch cầu và hồng cầu

Hóa chất có thể ảnh hưởng đến các tế bào hình thành máu của tủy xương, có thể dẫn tới:

  • Tăng khả năng nhiễm trùng (do giảm số lượng bạch cầu)
  • Dễ dàng bị thâm tím hoặc chảy máu (do hạ tiểu cầu)
  • Mệt rũ (do hạ hồng cầu và các lý do khác).

Các tác dụng phụ này thường kéo dài trong thời gian ngắn và hết sau khi kết thúc điều trị. Điều quan trọng là nói với bác sĩ nếu bạn có bất kỳ tác dụng phụ nào do có một vài cách để làm giảm bớt tác dụng phụ. Ví dụ, có thể cho thuốc để giúp ngăn ngừa hoặc giảm buồn nôn và nôn.

Cũng có thể có các tác dụng phụ khác. Một số tác dụng phụ này phổ biến hơn với các thuốc hóa chất nào đó. Bác sĩ sẽ nói cho bạn về các tác dụng phụ của các thuốc cụ thể mà bạn được cho.

3.3.1 Thay đổi kinh nguyệt: Đối những phụ nữ trẻ, thay đổi chu kỳ kinh nguyệt là tác dụng phụ phổ biến của hóa chất. Mãn kinh sớm (không có bất kỳ chu kỳ kinh nguyệt nào nữa) và vô sinh (không thể mang thai) có thể xảy ra và có thể là vĩnh viễn. Một số thuốc hóa chất nhiều khả năng gây ra hiện tượng này hơn các thuốc khác. Phụ nữ càng lớn tuổi khi được điều trị hóa chất và thì rất nhiều khả năng họ sẽ trở nên vô sinh và trải qua mãn kinh. Khi việc này xảy ra, có rủi ro tăng lên mất xương và loãng xương. Có nhiều thuốc có thể điều trị hoặc giúp ngăn ngừa các vấn đề về mất xương.

Thậm chí nếu chu kỳ kinh nguyệt của bạn dừng lại khi bạn điều trị hóa chất, bạn vẫn có thể mang thai. Mang thai khi hóa trị có thể dẫn tới khuyết tật khi sinh và ảnh hưởng tới điều trị. Nếu bạn ở tuổi tiền mãn kinh trước khi điều trị và vẫn có quan hệ tình dục, điều quan trọng là thảo luận dùng biện pháp tránh thai với bác sĩ của bạn. Đối với những phụ nữ có ung thư vú dương tính với nội tiết, một số phương thức tránh thai bằng nội tiết (như là viên thuốc tránh thai) không phải là ý kiến tốt, nên quan trọng là nói chuyện với bác sĩ nội ung thư và bác sĩ phụ khoa (hoặc bác sĩ gia đình) về lựa chọn nào là tốt nhất cho bạn. Phụ nữ đã hoàn thành điều trị (như là hóa trị) có thể an toàn để chuẩn bị có em bé, nhưng mang thai khi đang điều trị lại không an toàn.

Nếu bạn mang thai khi bạn bị ung thư vú, bạn vẫn có thể được điều trị. Các thuốc hóa chất nào đó có thể được dùng điều trị cho bạn an toàn trong hai thai kỳ cuối cùng.

Nếu bạn nghĩ bạn có thể muốn có con sau khi điều trị ung thư vú, hãy nói chuyện với bác sĩ trước khi bắt đầu điều trị.

3.3.2 Bệnh lý thần kinh: nhiều loại thuốc được sử dụng điều trị ung thư vú, gồm các thuốc taxane (docetaxel và paclitaxel), các tác nhân platinum (carboplatin, cisplatin), erubulin và ixabepilone có thể làm tổn thương dây thần kinh bên ngoài não và tủy sống, đôi khi dẫn tới các triệu chứng (chủ yếu là ở tay và chân) như là tê, đau, bỏng rát hoặc cảm giác đau nhói dây thần kinh, nhạy với lạnh hoặc nóng, hoặc yếu mệt. Trong hầu hết các trường hợp, những khó chịu này hết đi khi dừng điều trị, nhưng có thể kéo dài ở một số phụ nữ.

3.3.3 Tổn thương tim: Doxorubicin, epirubicin và một số thuốc khác có thể gây tổn thương tim vĩnh viễn (được gọi là bệnh cơ tim). Rủi ro xảy ra phụ thuộc vào lượng thuốc được dùng điều trị, và rủi ro cao nhất nếu thuốc được dùng trong thời gian dài hoặc ở liều cao. Các bác sĩ theo dõi chặt chẽ tác dụng phụ này. Hầu hết bác sĩ sẽ kiểm tra chức năng tim của bạn bằng một xét nghiệp như là MUGA hoặc điện tim đồ trước khi bắt đầu điều trị bằng các thuốc này. Bác sĩ cũng cẩn thận kiểm tra liều, theo dõi các triệu chứng các vấn đề của tim, và có thể làm lại các xét nghiệm tim để quan trắc chức năng tim. Nếu chức năng tim bắt đầu suy giảm, sẽ dừng việc điều trị bằng các thuốc này lại. Ở một số người, tổn thương tim vẫn phát triển trong thời gian dài. Các dấu hiệu có thể không xuất hiện trong nhiều tháng hoặc nhiều năm sau khi dừng điều trị. Tổn thương tim do các thuốc này xảy ra thường xuyên hơn nếu các thuốc khác có thể gây tổn thương tim, như là trastuzumab và các thuốc khác nhắm tới HER 2 cũng được sử dụng, nên các bác sĩ thường lo ngại khi dùng các thuốc này cùng nhau.

3.3.4 Hội chứng tay-chân: các thuốc hóa chất nào đó, như là capecitabine và liposomal, doxorubicin có thể gây kích thích lòng bàn tay và gan bàn chân, hiện tượng này được gọi là hội chứng tay-chân. Các triệu chứng sớm gồm tê tay chân và đỏ da. Nếu tình trạng xấu đi, tay và chân có thể bị sưng lên và làm cho khó chịu hoặc thậm chí đau đơn. Da có thể nổi mụn nước, dẫn tới bong da hoặc thậm chí trướt da và đau. Không có điều trị cụ thể, mặc dầu có thể dùng một vài loại kem. Các triệu chứng này dần dần được cải thiện khi ngừng thuốc hoặc giảm liều. Cách tốt nhất để phòng ngừa hội chứng tay-chân nghiêm trọng là nói với bác sĩ khi có các triệu chứng sớm để có thể thay đổi liều thuốc. Hội chứng này cũng có thể xảy ra khi thuốc 5-FU được truyền trong một vài ngày (không phổ biến khi được dùng để điều trị ung thư vú).

3.3.5 Hóa chất tác dụng lên não (Chemo Brain): một tác dụng phụ có thể của hóa trị là “tác dụng lên não”. Nhiều phụ nữ được điều trị ung thư vú báo cáo có sự suy giảm chức năng trí óc. Họ cũng có thể có một số vấn đề về tập trung và trí nhớ, có thể trong thời gian dài. Mặc dầu nhiều phụ nữ đã liên kết điều này tới tới hóa trị, vấn đề này cũng được thấy ở những phụ nữ không được hóa trị trong khi điều trị. Một số phụ nữ vẫn có chức năng trí óc tốt sau điều trị. Trong nhiều nghiên cứu đã thấy hóa chất tác dụng lên não là tác dụng phụ của điều trị, các triệu chứng gần như mất đi sau một vài năm.

3.3.6 Rủi ro mắc bệnh leukimia (máu trắng): các thuốc hóa chất nào đó có thể làm tổn thương tủy xương vĩnh viễn dẫn tới bệnh gọi là hội chứng loạn sản tủy hoặc thậm chí bệnh bạch cầu nguyên bào tủy cấp tính, bệnh ung thư bạch cầu đe doạ tính mạng. Bệnh này thường xảy ra trong vòng 10 năm sau điều trị. Ở hầu hết phụ nữ, lợi ích của hóa trị trong ngăn ngừa ung thư vú quay trở lại hoặc kéo dài cuộc sống nhiều khả năng vượt xa rủi ro của biến chứng hiếm nhưng nghiêm trọng.

3.3.7 Cảm thấy không khỏe: Nhiều phụ nữ không cảm thấy khỏe sau khi điều trị hóa chất như khi trước điều trị. Thường có cảm giác đau cơ thể hoặc đau nhức và giảm nhẹ chức năng của cơ thể. Những điều này có thể là những thay đổi không dễ phát hiện, chỉ được nói ra khi hỏi cặn kẽ những phụ nữ đã qua hóa trị.

Mệt rũ là một vấn đề phổ biến khác (nhưng thường bị coi nhẹ) đối với những phụ nữ được hóa trị. Cảm giác không khỏe có thể kéo dài tới vài năm. Có thể giúp giảm cảm giác này, nhưng điều quan trọng là báo cho bác sĩ biết. Luyện tập, ngủ trưa và bảo toàn năng lượng có thể được khuyến nghị. Nếu có vấn đề về giấc ngủ thì cần được điều trị. Đôi khi bị trầm cảm có thể được giảm nhẹ bằng tư vấn hoặc thuốc.