Kinh nghiệm điều trị ung thư bằng hóa trị – Tập 1

MỤC LỤC

 

Những điều nên biết về hóa trị ung thư

Thứ Sáu, 26/09/2014 13:13

Bệnh nhân ung thư (và cả người nhà) khi được chỉ định hóa trị thường khá hoang mang vì nghĩ rằng việc đưa hóa chất độc hại vào chắc chắn sẽ làm tổn hại cơ thể và sức khỏe về sau.

Hóa trị là gì?

Hóa trị là dùng một loại thuốc đặc trị có thể tiêu diệt được tế bào ung thư. Phần lớn các thuốc này đều được dùng qua đường tĩnh mạch, tức là thuốc được pha loãng với nước sérum rồi truyền vào cơ thể qua mạch máu.

Thuốc này có độc hại, vì như thế mới diệt được tế bào ung thư “hung dữ”, nhưng chủ yếu là gây hại cho tế bào ung thư, cơ thể chịu ảnh hưởng ít hơn. Nếu so với cái độc do tế bào ung thư gây ra cho cơ thể thì thuốc này ít độc hơn nhiều.

Phương pháp điều trị này (chemotherapy) có liên quan đến lịch sử hình thành ngành hóa trị. Sau thế chiến II, các nhà khoa học thấy những bệnh nhân chết vì khí độc mustard có tình trạng thiếu tế bào máu (hồng cầu, bạch cầu, tiểu cầu) trong tủy xương.

Những tế bào máu này giống tế bào ung thư ở chỗ chúng sinh sản rất nhanh nên người ta nghĩ có thể dựa trên thành phần hóa học này để bào chế ra các loại thuốc chống ung thư. Rất nhiều thuốc dựa trên khí mustard được gọi là nhóm nitrogen mustard như cyclophosphamide, ifosfamide, chlorambucin, mephalan…

Nay còn thêm nhiều thuốc khác thành phần hóa học không dựa vào chất khí mustard như paclitaxel, docetaxel…Như vậy, hóa trị cũng chỉ là dùng “thuốc tây”để trị bệnh.

Hóa trị để làm gì?

Tùy vào loại ung thư và giai đoạn phát triển của bệnh, hóa trị có thể đạt được các mục tiêu:

– Chữa khỏi: Sau khi hóa trị không còn tìm thấy tế bào ung thư trong cơ thể và bệnh cũng không có cơ hội tái phát.

– Kềm chế: Hóa trị làm cho bệnh không phát triển thêm hoặc chậm phát triển.

– Giảm thiểu triệu chứng: Hóa trị làm cho bướu nhỏ đi nên giảm đau cho bệnh nhân.

Trong thực tế, hóa trị sẽ nằm trong các tình huống sau:

– Hóa trị làm cho bướu nhỏ bớt rồi sau đó phẫu thuật hoặc xạ trị, gọi là hóa trị tân hỗ trợ.

– Sau phẫu thuật hoặc xạ trị, bệnh nhân được bác sĩ tiếp tục hóa trị để tiêu diệt hết những tế bào ung thư còn sót lại để ngăn ngừa tái phát hoặc di căn, gọi là hóa trị hỗ trợ. Chẳng hạn trong điều trị ung thư vú, sau khi đã mổ cắt bỏ toàn bộ vú, nạo hạch nách, bệnh nhân sẽ được hóa trị hỗ trợ nhiều đợt sau mổ để đạt được mục tiêu chữa khỏi.

– Hóa trị cùng lúc với xạ trị để xạ trị có hiệu quả hơn, gọi là hóa – xạ đồng thời.

– Hóa trị khi bệnh đã lan tràn, di căn, tái phát.

Hóa trị được thực hiện ra sao?

Đa số được truyền thuốc qua mạch máu. Bệnh nhân có thể nằm hoặc ngồi, thời gian truyền tùy loại thuốc, thường thì vài giờ truyền trong một ngày hoặc 3-5 ngày liên tiếp, cứ 3 tuần lại truyền một lần, mỗi lần truyền gọi là một đợt hay một chu kỳ.

Tác dụng phụ của hoá trị

– Ói và buồn ói: Xảy ra trong lúc hóa trị, hoặc trong vài giờ, vài ngày sau hóa trị. Ói tuy không nguy hiểm nhưng sẽ làm bệnh nhân mất sức, tinh thần hoang mang, lo sợ. Hiện nay có nhiều thuốc chống ói rất hiệu quả nên ngày càng ít gặp hiện tượng này. Tuy vậy vẫn có thể bị ói nếu bệnh nhân thuộc loại quá nhạy cảm.

– Chán ăn.

– Mệt mỏi.

– Rụng tóc: Thường xuất hiện sau hóa trị vài tuần. Tóc rụng từ từ, từng mảng, đa số bệnh nhân sẽ cạo sạch tóc trước khi tóc rụng nhiều. Không có cách ngăn ngừa rụng tóc. Tốt nhất là đội tóc giả hoặc khăn. Không phải bệnh nhân hóa trị nào cũng rụng tóc, tuỳ cơ thể của từng người và loại thuốc. Do vậy không bị rụng tóc không có nghĩa là thuốc không có hiệu quả.

– Lở miệng: Sau hóa trị vài tuần có thể sẽ bị lở miệng. Nên uống thuốc giảm đau, uống thuốc giảm viêm nếu lở miệng nặng. Giữ vệ sinh miệng bằng cách đánh răng.

– Nhiễm trùng: Hoá trị sẽ “đánh”vào những tế bào phân chia nhanh như tế bào ung thư và những tế bào bình thường như những tế bào bạch cầu đang được hình thành trong tủy xương để chuẩn bị cung cấp cho máu. Bạch cầu làm nhiệm vụ bảo vệ cơ thể chống lại vi trùng.

Hóa trị làm giảm bạch cầu khiến bệnh nhân dễ bị nhiễm trùng và khi bị nhiễm trùng thì rất nặng vì cơ thể không đủ sức đề kháng. Sau hóa trị một tuần, nếu bị sốt, bệnh nhân phải đến bệnh viện ngay để được thử máu, đếm số lượng bạch cầu và kiểm tra tình trạng nhiễm trùng.

– Chảy máu: Bệnh nhân có thể bị chảy máu mũi, nướu răng, vết bầm (chảy máu dưới da) hoặc nặng hơn là chảy máu trong não gây hôn mê. Nguyên nhân là do hóa trị làm giảm sinh sản tiểu cầu ở trong tủy xương, giống như giảm bạch cầu như đã nói ở trên. Tiểu cầu giúp đông máu, giảm tiểu cầu làm máu chảy không cầm được.

– Những biến đổi ở cơ quan sinh dục: Hóa trị có thể làm bệnh nhân giảm ham muốn tình dục, gây vô sinh hoặc gây quái thai. Bệnh nhân vẫn có thể sinh hoạt vợ chồng như bình thường trong giai đoạn hóa trị nhưng phải ngừa thai. Những cặp vợ chồng chưa có con, trước khi hóa trị có thể tiến hành các biện pháp gửi tinh trùng hoặc trứng dự trữ để thụ tinh nhân tạo sau này.