Kinh nghiệm điều trị ung thư máu – Tập 1

MỤC LỤC

 

https://www.facebook.com/groups/Ungthumau/permalink/226210877585302/.

Lê Nam Đỗ.

Quản trị viên • 3 Tháng 3 2014 • Thành phố Hồ Chí Minh.

BỆNH BẠCH CẦU CẤP TÍNH.

(Theo Bệnh học Nội khoa – ĐHYD TP Hồ Chí Minh).

Bệnh bạch cầu cấp tính là một bệnh ác tính về máu, có hiện tượng tăng sinh quá độ của các bạch cầu non chưa phân hóa hoặc là phân hóa kém và diễn tiến tới tử vong một cách rất nhanh chóng nếu không có điều trị hữu hiệu.

I.PHÂN LOẠI BỆNH HỌC.

Người ta chia bệnh bạch cầu cấp tính làm 2 loại chính tùy theo phân bố tuổi và cách đáp ứng với điều trị.

1.Bạch cầu cấp tính dòng mẫu tân cầu (Leucemie nguyên bào lympho cấp). Loại này xảy ra nhiều ở trẻ em từ 2-4 tuổi, người lớn ít gặp, có đáp ứng tốt với điều trị.

2.Bạch cầu cấp tính không phải dòng mẫu tân cầu (Leucemie nguyên bào không phải lympho). Loại này chia ra làm nhiều loại nhỏ khác nhau tùy thuộc vào dạng tế bào tăng sinh. Thường gặp nhất là bạch cầu cấp tính dạng tế bào tủy, dạng này thường gặp ở những người trẻ tuổi và càng lớn tuổi tỷ lệ xuất hiện của bệnh càng tăng.

II.NGUYÊN NHÂN.

Cho đến nay, y học đang tìm kiếm nguyên nhân cụ thể gây nên bệnh bạch cầu cấp. Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu ghi nhận các yếu tố liên quan đến bệnh lý này như sau:

Hóa chất: Các chất nhóm Alkyl, nhóm benzen (những hóa chất có cấu trúc hóa học nhân vòng).

Tia xạ hay tia ion hóa: Tỷ lệ bệnh bạch cầu cấp gặp nhiều ở những người tiếp xúc với tia xạ lâu ngày hay ở trong vùng nhiễm xạ nặng.

Virus: Nhiều nghiên cứu ghi nhận một số virus gây bệnh trên người một thời gian dài cũng gây ung thư. Ví dụ: EBV gây ung thư vòm, HTLV1,2 gây bệnh bạch cầu cấp dòng lympho T…

Bất thường nhiễm sắc thể: Đây là nguyên nhân thường gặp trên bệnh nhân bạch cầu cấp.

Yếu tố di truyền: Có một số bệnh bẩm sinh di truyền như Hội chứng Down, hội chứng thiếu hụt miễn dịch bẩm sinh, hội chứng Poland… gây người bệnh dễ mắc thêm bệnh bạch cầu cấp.

Yếu tố môi trường: Môi trường bị nhiễm độc do hóa chất, thuốc trừ sâu, tia xạ…gây nên tình trạng nhiễm độc nguồn nước, thức ăn…và các chất độc này gây đột biến nhiễm sắc thể, gây ung thư máu.

– Nhiễm siêu vi loại B hoặc C-RNA virus (nhất là loại C).

III.TỔN THƯƠNG BỆNH HỌC.

Tổn thương chủ yếu xảy ra ở một số ít tế bào máu gốc. Nếu tổn thương xảy ra lúc tế bào máu gốc chưa chuyên biệt hóa sản xuất thì cả dòng hồng cầu, tiểu cầu đều có thể bị tổn thương như là trong bệnh bạch cầu cấp dạng hỗn hợp bạch cầu và hồng cầu (Erythroleukaemia).

Khi tổn thương xảy ra, sự điều hành sản xuất bạch cầu và sự trưởng thành của các bạch cầu bị rối loạn. Các bạch cầu non tăng sinh, không tuân theo sự điều hành, tiếp tục tăng sinh quá độ. Vì các bạch cầu này không thể trưởng thành được, đời sống của chúng kéo dài hơn bạch cầu bình thường, kết quả là chúng sẽ tích tụ lại và xâm nhập các cơ quan tạo máu.

Các bạch cầu non tăng sinh này không những tràn ngập các cơ quan tạo máu mà còn ức chế sự tạo máu bình thường. Cơ chế ức chế này hiện nay chưa rõ là do yếu tố thể dịch (do các bạch cầu non tăng sinh thiết ra) hay là do yếu tố tế bào (do tràn ngập).

Về phần hồng cầu, nếu có tăng sinh quá độ, các hồng cầu non có thể thấy ngoài máu ngoại biên nhưng không gây ảnh hưởng gì tai hại để cần phải lưu ý điều trị như trong trường hợp bạch cầu. Hơn nữa, sự tăng sinh hồng cầu là sự tăng sinh không hiệu quả và phần lớn các hồng cầu non không trưởng thành được, sẽ bị hủy hoại ngay trong tủy xương.

Hiện tại người ta chưa biết rõ về tổn thương bệnh học của tiểu cầu.

IV.TRIỆU CHỨNG.

A.Lâm sàng:

Bệnh khởi phát có thể đột ngột với các triệu chứng như sốt cao, xuất huyết nhiều, suy nhược nặng hoặc xảy ra từ từ với các triệu chứng như mệt mỏi, xanh xao, sốt nhẹ, lở loét miệng không lành, chảy máu rỉ rả ở chân răng. Có khi bệnh nhân không có triệu chứng gì biểu lộ cả, bệnh chỉ phát hiện tình cờ khi bệnh nhân nhổ răng chảy máu không cầm được hoặc khi bệnh nhân là phụ nữ bị rong kinh.

Trong giai đoạn toàn phát, bệnh nhân có thể có một hay nhiều dấu chứng sau đây:

1.Thiếu máu:

– Dấu hiệu này xuất hiện từ từ, mỗi ngày một nặng dần lên. Bệnh nhân xanh xao, khó thở khi gắng sức, hồi hộp, tim đập nhanh.

– Thiếu máu không hồi phục và không đáp ứng với các điều trị thiếu máu thông thường.

2.Sốt:

Sốt là dấu hiệu thường gặp nhất và có đủ tất cả kiểu sốt; sốt không theo một dạng hình đặc biệt nào cả. Sốt cao thường đi kèm với nhiễm trùng ở các hốc tự nhiên của cơ thể, nhất là miệng. Niêm mạc miệng, nướu răng dễ bị loét và làm mủ. Cũng có khi sốt không tìm ra được ổ nhiễm trùng và cũng không có đáp ứng với các loại kháng sinh.

3.Xuất huyết:

– Thường là xuất huyết da niêm hoặc đôi khi xuất huyết nội tạng như xuất huyết tiêu hóa, xuất huyết não-màng não, xuất huyết phổi. Xuất huyết da niêm có thể ở dạng điểm, ban xuất huyết hoặc mảng xuất huyết và có thể xảy ra ở mọi nơi trong cơ thể.

– Xuất huyết dưới hình thức đông máu nội mạch lan tỏa thường gặp trong thể tiền tủy bào (promyelocytic leucemie).

4.Biến đổi hệ thống võng nội mô:

– Hạch to, kích thước trung bình, đối xứng, di động, không đau, phần lớn là hạch ngoại biên. Hạch có thể toàn diện hoặc khu trú ở vùng cổ.

– Gan có thể bình thường hay trung bình.

– Lách to trung bình, không đau; đôi khi nhồi máu lách có thể xảy ra.

5.Đau nhức xương khớp:

– Hay gặp và dễ nhầm lẫn với các trường hợp bệnh lý liên quan đến khớp như thấp khớp cấp, viêm đa khớp dạng thấp…

– Xương ức, các xương dẹt khác và các khớp xương lớn hay bị đau nhức do các tế bào ác tính xâm nhập, gây ra hiện tượng hủy xương.

6.Tổn thương ở hệ thần kinh:

Do các tế bào ác tính xâm nhập não, màng não. Các tổn thương hệ thần kinh chỉ xảy ra sau khi bệnh nhân đã tiến triển nhiều; bệnh nhân có thể có dấu màng não, tổn thương các thần kinh sọ, các dây thần kinh ngoại biên…

7.U bướu ở da, hốc mắt, xương:

Ít gặp. Nếu có, thường xảy ra trong bạch cầu cấp dạng tế bào tủy.

B.Xét nghiệm cận lâm sàng:

Chủ yếu là công thức máu và tủy đồ.

1.Công thức máu:

– Hồng cầu giảm: Thiếu máu đẳng sắc đẳng bào, do giảm sản xuất và do xuất huyết. Đôi khi trong công thức máu có thể thấy có sự hiện diện của các hồng cầu non; khi ấy phết máu ngoại biên cho thấy hình ảnh thiếu máu đại bào.

– Tiểu cầu lúc đầu bình thường, có thể tăng nhưng hiếm, về sau sẽ giảm.

– Bạch cầu số lượng thay đổi, 15% trường hợp số lượng bạch cầu > 100.000/mm3. Bạch cầu đa nhân trung tính giảm. Có thể thấy bạch cầu non tăng sinh hoặc không. Nếu có các bạch cầu non tăng sinh, giữa bạch cầu non tăng sinh và bạch cầu trưởng thành không thấy các giai đoạn bạch cầu trung gian, người ta gọi là có khoảng trống bạch cầu.

2.Tủy đồ:

Tủy đồ thường giàu tế bào. Rất ít bạch cầu trưởng thành nhưng có rất nhiều bạch cầu non tăng sinh (50-95%) và giống như ở ngoài máu ngoại biên, cũng có khoảng trống bạch cầu.

3.Nồng độ acid uric trong máu tăng do có sự hủy hoại nhiều của các tế bào ác tính tăng sinh.

4.Nồng độ B12 trong huyết thanh tăng trong bạch cầu cấp dạng tế bào tủy do tăng transcobalamine (tiết ra từ các bạch cầu thể tủy).

BIỂU HIỆN BỆNH BẠCH CẦU CẤP:

Các triệu chứng thường gặp nhiều nhất là:

Sốt kéo dài trên một tuần, sốt cao, thất thường và điều trị thuốc kháng sinh hay hạ sốt nhưng không hết.

Mệt mỏi, chán ăn.

Xanh xao có thể kèm theo vàng da (một số trường hợp).

Một số triệu chứng đi kèm, ít gặp khác:

Bụng to, cứng.

Viêm loét miệng hay vòm họng.

Khó thở, tim đập nhanh.

Nốt xuất huyết dưới da nhiều hay mảng bầm da nhiều…. Vv…

TIẾP CẬN BỆNH NHÂN BẠCH CÂU CẤP:

Một khi đã gia đình ghi ngờ bệnh nhân bệnh bạch cầu cấp thì nên đến khám tại Bệnh Viện quận huyện gần nhất để phát hiện sớm và có cách can thiệp hiệu quả nhất và sớm nhất.

Không nên điều trị Đông y trước khi các Bác Sĩ tây y tư vấn.

Đối với bệnh nhân đang sốt cao có kèm nhức đầu dữ dội, gia đình nên cho uống nước thật nhiều > 2,5 lít/ngày và dung hạ sốt tạm thời trước khi đến Bệnh Viện. Uống nhiều nước là điều quan trọng nhất vì khi ấy, bệnh bạch cầu cấp có khuynh hướng gia tăng nhanh và mạnh, các tế bào ác tính được sinh sản liên tục có nguy cơ gây tắc mạch máu đặc biệt là tại não. Chính vì thế, giải pháp tạm thời của gia đình đối với bệnh nhân là nên cho uống nhiều nước để pha loãng phần nào sự cô đặc của các tế bào ác tính.

V.CHẨN ĐOÁN PHÂN BIỆT.

A.Về phương diện triệu chứng lâm sàng:

Cần chẩn đoán phân biệt với các trường hợp bệnh lý liên hệ đến triệu chứng nổi bật ở bệnh nhân như thiếu máu, cần phân biệt với các trường hợp thiếu máu khác như do thiếu nguyên liệu, do xuất huyết.

B.Về phương diện cận lâm sàng:

1.Trường hợp công thức máu có số lượng bạch cầu cao:

a) Bạch cầu thể tủy tăng: Cần phân biệt với phản ứng giả bạch cầu: Các bạch cầu già hơn, trưởng thành nhiều hơn.

b) Bạch cầu đơn nhân tăng, tân cầu tăng: Cần chẩn đoán phân biệt với các trường hợp nhiễm siêu vi. Phân biệt nhờ tủy đồ.

2.Trường hợp tủy đồ có hình thái tế bào bình thường. Nếu tủy đồ:

a) Nghèo tế bào: Cần chẩn đoán phân biệt với các trường hợp có ổ tăng sinh kín đáo chưa phát hiện được bằng tủy đồ với các trường hợp bệnh lý có suy tủy xương. Nên làm lại tủy đồ ở vị trí khác hoặc sinh thiết tủy.

b) Giàu tế bào:

Bệnh bạch cầu cấp tính thể có u bướu, tủy đồ trong một thời gian dài có thể chưa bị rối loạn mặc dù ở máu ngoại biên có thể có xuất hiện bạch cầu non ác tính.

Tủy đồ giàu tế bào còn phân biệt với:

– Bệnh đa u tủy (Kahler) có những tế bào không phân hóa giống như mẫu tân cầu.

– Quá trình phục hồi tủy sau suy tủy: Tủy đồ sẽ có tăng sinh bạch cầu non và có khoảng trống bạch cầu. Cần chọc dò tủy lại sau một thời gian, nếu lá quá trình phục hồi tủy sẽ thấy dòng bạch cầu thể tủy bình thường.

VI.TIẾN TRIỂN.

Nếu không điều trị, bệnh nhân sẽ chết trong vòng 3 tháng (dòng mẫu tân cầu), 1-2 tháng (các bạch cầu cấp không thuộc dòng mẫu tân cầu).

Bệnh nhân thường chết vì các biến chứng:

– Xuất huyết nặng.

– Tắc động mạch, tĩnh mạch.

– Nhiễm trùng.

– Suy kiệt.

Các yếu tố để tiên lượng bệnh nhân:

– Tuổi: Càng lớn, bệnh càng nặng.

– Số lượng bạch cầu: Càng cao, bệnh càng nặng.

– Loại tế bào: Bạch cầu cấp dòng mẫu tân cầu đáp ứng tốt với điều trị, các loại bạch cầu cấp khác đáp ứng kém.

VII.ĐIỀU TRỊ.

Ngăn ngừa tổn thương ở hệ thần kinh:

– Xạ trị sọ hoặc dùng Methotrexate tiêm thẳng vào dịch não tủy.

– Điều trị nên để cho chuyên khoa để có thể đạt được mục đích.